Project Description Foreseeing a world of interconnected AI-empowered Internet of Things (IoT), this project is to build an Artificial Intelligence of Things (AIoT). Modern AI algorithms cannot be implemented effectively in the IoT devices due to their limited computing resources and storage. On the other hand, limited network bandwidth and latency delay the data transmission and affect the timeliness of training a deep learning model at the cloud computing center. The research objectives are to (1) implement an energy-efficient AI algorithm on the edge devices, (2) and to train the learning model effectively despite having only limited amount of data locally. To achieve these objectives, this project proposes using the (1) Spiking Neural Networks (SNNs) to provide energy-efficient learning on edge devices, and (2) Federated Learning (FL) to train collaboratively a global model for the distributed devices. Source of Funding: Fundamental Research Grant Scheme (FRGS) Duration: 2 Years (2021 Sep – 2023 Aug) Monthly Salary: RM 2000 Location: Faculty of Engineering, Multimedia University, Cyberjaya, Selangor, Malaysia
Benefits of the project (not limited to):
Pursue a Master of Engineering Science (M.Eng.Sc.)
Publications in conference proceedings and journals
Responsibilities:
Conduct research and publish the findings
Deliver the expected project outcomes
Perform administrative works assigned by the faculty
Requirements:
Bachelor’s degree in Electrical/Electronics Engineering with CGPA 3.0 and above.
Prior knowledge and skills in embedded system programming, AI, Neural Network, Federated Learning algorithms is an advantage
Can communicate and write well in English
Responsible and responsive
Be committed till the project ends
Interested applicants please write to Dr Foo Yee Loo (ylfoo@mmu.edu.my) with a proper cover letter & CV by 15 Nov 2021. Only shortlisted candidates will be called for an interview.
Khoa Viễn Thông 2 phối hợp với Amazon Việt Nam tổ chức khóa học nhập môn AWS cho các bạn sinh viên của Khoa. Hiện nay, kiến thức và kỹ năng về cloud là rất cần thiết cho một kỹ sư ngành điện tử viễn thông. Khoa khuyến khích các em sinh viên đăng ký học và tham dự lớp học đầy đủ để có điều kiện kiện thực hành trên hệ thống cloud của Amazon.
Thông tin khóa học là như sau:
– Khai giảng: 6/11/2021
– Thời lượng: 4 tuần, mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1.5h, thực tập trên trên Cloud Journey
– Hình thực học online:
– Học phí: miễn phí cho sinh viên Khoa VT2
– Ngôn ngữ: tiếng Việt
– Chương trình học
Tuần 1: 14:00-15:30 ngày 6/11: Giới thiệu tổng quan về AWS
Tuần 2: 14:00-15:30 ngày 13/11: Hạ tầng network trên AWS
Tuần 3: 14:00-15:30 ngày 20/11: Hạ tầng lưu trữ trên AWS
Tuần 4: 14:00-15:30 ngày 27/11: Dịch vụ tính toán trên AWS
Yêu cầu:
Có tinh thần ham học hỏi, khả năng tự học
Cam kết tự nguyện hoàn thành khóa học
Dùng email của trường để để đăng ký
• Chương trình được biên soạn bởi anh Nguyễn Gia Hưng – Chuyên gia Kiến trúc Giải pháp cấp cao của Amazon Web Services dành riêng cho thị trường Việt Nam, bằng ngôn ngữ tiếng Việt, với sự trích lọc tổng hợp từ hơn 5000 các bài giảng khác nhau cùng với hàng ngàn bài thực hành thực tế (Labs) từ chính hệ thống thư viện của
Amazon Web Services;
• Chương trình được thiết kế để khi hoàn tất các khoá học, học viên có thể tham gia các kỳ thi chứng chỉ chuyên môn do Amazon tổ chức và làm việc tại các doanh nghiệp
Ngành Kỹ Thuật Điện Tử Viễn Thông hướng đến tính liên ngành nhằm đáp ứng các vị trí công việc trong xu hướng hiện nay và mở rộng khả năng làm việc của sinh viên điện tử viễn thông trong các lĩnh vực khác nhau.
Thông tin tuyển sinh năm 2023
KHOA VIỄN THÔNG 2
Ngày Hội Giao Lưu Doanh Nghiệp
Hội Trại Giao Lưu Khoa
Ngành Kỹ Thuật Điện Tử Viễn Thông
Khoa Viễn Thông 2
Ngành Kỹ Thuật Điện Tử Viễn Thông thuộc chương trình đào tạo của:
Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông
(Tên tiếng Anh: Posts and Telecommunications Institute of Technology, viết tắt: PTIT)
Mã trường: BVS
Cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh
Địa chỉ: Số 11 Nguyễn Đình Chiểu, Phường Đa Kao, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại liên lệ: 02.837.306.600 (Học viện), 02.838.295.260 (Khoa Viễn Thông 2)
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông là trường đại học công lập trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông bao gồm Cơ sở đào tạo tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các Viện nghiên cứu khoa học – chuyển giao công nghệ đầu ngành trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông và kinh tế chuyên ngành.
Học viện là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ có cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, trong đó tập trung vào lĩnh vực Viễn thông, Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT – luôn là thế mạnh của Học viện với hơn 20 năm kinh nghiệm gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp); có chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, nghiên cứu khoa học tiên tiến; có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trình độ cao; có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp và đồng bộ; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng, giữa khoa học và công nghệ để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài khoa học, công nghệ; định hướng phát triển thành đại học nghiên cứu ngang tầm với các đại học có uy tín trong khu vực và trên thế giới.
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao; chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục và đào tạo, của Bộ Thông tin và Truyền thông về cơ cấu tổ chức và chuyên môn theo quy định của Chính phủ. Các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, trung tâm bồi dưỡng đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn thuộc Học viện có quyền tự chủ cao, có tư cách pháp nhân được quy định trong Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học.
Ngành kỹ thuật điện tử truyền thông là một ngành rất quan trọng, đóng vai trò to lớn trong việc cung cấp nhân lực cho việc đảm bảo và phát triển các hệ thống thông tin quốc gia, phục vụ nhu cầu trao đổi thông tin của con người.
Ngành kỹ thuật điện tử truyền thông dành cho sinh viên có sở thích và đam mê làm việc trong lĩnh vực công nghệ viễn thông và thông tin bao gồm nghiên cứu, chế tạo, thiết kế, vận hành, bảo dưỡng, các thống truyền dẫn thông tin, hệ thống vô tuyến, hệ thống thông tin di động, hệ thống xử lý tín hiệu âm thanh, hình ảnh và đa phương tiện, v.v. . Chương trình bao gồm các môn học liên quan đến các công nghệ tiêu biểu như thông tin di động và không dây, siêu cao tần và an-ten, mạng viễn thông và mạng máy tính, phát thanh truyền hình, xử lý số tín hiệu.
MẠNG VÀ DỊCH VỤ INTERNET
Chương trình sẽ đào tạo thành những kỹ sư có kiến thức chuyên môn và tay nghề cao, có thể hiểu rõ các nguyên lý hoạt động của các mạng viễn thông, hệ thống thông tin, có khả năng thiết lập mạng lưới, khai thác vận hành, nâng cấp các hệ thống, thiết bị điện tử-viễn thông, có thể nghiên cứu, thiết kế và phát triển hệ thống điện tử ứng dụng công nghệ viễn thông, công nghệ vi mạch, bán dẫn, xử lý tín hiệu và thông tin trong công nghiệp và dân dụng.
Chuyên ngành IOT
Triển vọng nghề nghiệp
Sinh viên sau tốt nghiệp có thể làm việc tại các tập đoàn, tổng công ty, các phòng kỹ thuật, các viện nghiên cứu và các trường đại học về lĩnh vực điện tử viễn thông. Các tập đoàn và công ty thường tuyển dụng các kỹ sư viễn thông tốt nghiệp từ Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông Cơ Sở TP. Hồ Chí Minh bao gồm: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty Mobifone, Vinaphone, Tập đoàn Viễn thông quân đội (VIETEL), Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện Việt Nam (VTC), Tổng công ty Hàng không Việt Nam, tập đoàn FPT, tập đoàn CMC, các đài truyền hình, đài phát thanh thành phốvà các tỉnh (HTV, VTV, VOH). Các tập đoàn, công ty đa quốc gia bao gồm: Intel, Misfit, Renesas, TMA.
Theo thống kê sơ bộ:
95% kỹ sư tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên môn sau 3 tháng tốt nghệp.
Mức lương trung bình của kỹ sư mới ra trường theo thống kê sơ bộ năm 2020 là từ 15 đến 60 triệu.
Phạm vi tuyển sinh: Học viện tuyển sinh trên phạm vi cả nước.
Phương thức xét tuyển: Theo như phương thức của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (Vui lòng xem thông tin chi tiết ở: http://hcm.ptit.edu.vn/ptit-tuyen-sinh)
Tổ chức tuyển sinh:
Thời gian xét tuyển: Theo lịch xét tuyển của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Hình thức nhận hồ sơ ĐKXT: Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Các điều kiện xét tuyển: Không tổ chức sơ tuyển
Các câu hỏi thường gặp – FAQ
Câu hỏi: Ngành Viễn thông khác gì với ngành Điện tử Viễn thông?
Trả lời: Ngành Viễn thông là một tên gọi khác, ngắn gọn hơn, của ngành Điện tử Viễn thông, hay còn gọi là Điện tử Truyền thông. Trong ngành Điện tử Viễn thông, điện tử là kiến thức cơ sở ngành, viễn thông là kiến thức chuyên ngành. Một kỹ sư viễn thông ngoài kiến thức chuyên môn về viễn thông còn được học và biết về điện tử.
Vì vậy, kỹ sư điện tử viễn thông tốt nghiệp từ Học viện Công nghệ Bưu chính Viến thông, cơ sở tại TP. HCM có thể làm trong lĩnh vực điện tử hay lĩnh vực viễn thông. Ngoài ra, bạn còn có thể làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin khi xu hướng hiện nay điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin ngày càng pha trộn lẫn nhau.
Câu hỏi: Điểm chuẩn vào ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông là bao nhiêu?
Trả lời: Điểm chuẩn vào ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT), cơ sở tại TP. HCM, trong 3 năm gần đây là: năm 2017: 19.5; năm 2018: 17.0; năm 2019: 17.0; năm 2020: 20.0.
Câu hỏi: Chương trình học ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông kéo dài trong bao nhiêu lâu?
Trả lời: Chương trình học ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông bao gồm 145 tín chỉ, được học trong 9 học kỳ. Nếu hoàn thành đúng tiến độ, sinh viên sẽ hoàn thành chương trình, tốt nghiệp sau 4,5 năm. Sinh viên sẽ đi thực tập tốt nghiệp sau học kỳ thứ 8 và sẽ làm đồ án tốt nghiệp trong học kỳ thứ 9.
Câu hỏi: Ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông ở Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông khác với các trường khác như Đại học Bách Khoa TP.HCM, Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM như thế nào?
Trả lời: Đại học Bách Khoa TP. HCM có xu hướng đào tạo chuyên sâu về kiến thức cơ bản và chương trình ít kiến thức chuyên sâu về công nghệ.
Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh có xu hướng đào tạo chuyên sâu về thiết kế điện tử.
Nếu bạn yêu thích về công nghệ viễn thông, đặc biệt là về mạng máy tính, mạng viễn thông, thông tin vô tuyến và công nghệ internet vạn vật (IoT) cùng với một ít sở thích về khởi nghiệp, ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT), cơ sở tại TP. HCM là sự lựa chọn phù hợp với bạn.
Câu hỏi: Học phí của ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông là bao nhiêu?
Trả lời: Học phí tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT), cơ sở tại TP.HCM được thu theo học kỳ, tùy theo số tín chỉ mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó. Trong năm học 2019 – 2020, đơn giá một tín chỉ của khối các ngành kỹ thuật là 480.000 đồng/tín chỉ. Chương trình học ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông bao gồm 145 tín chỉ, được học trong 9 học kỳ.
Câu hỏi: Cơ hội việc làm của ngành điện tử viễn thông là như thế nào?
Trả lời: Ngành Điện tử Viễn thông (ĐTVT) và Công nghệ Thông tin (CNTT) là hai ngành đóng vai trò quan trọng trong xu hướng toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.
Sinh viên tốt nghiệp ngành điện tử viễn thông có thể được tuyển dụng vào các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông như VNPT, Viettel, FPT Telecom, Mobifone, Vinaphone, SCTV … và các doanh nghiệp cung cấp giải pháp về mạng viễn thông, chế tạo thiết bị và kinh doanh thiết bị về viễn thông như Ecricsson, Huawei, ACE Technologies, Sao Bắc Đẩu, CT-IN …
Câu hỏi: Sau khi học xong, em muốn về quê, với ngành này em muốn kiếm việc ở quên là có được không?
Trả lời: Tất nhiên là có. Các dịch vụ viễn thông (điện thoại, internet, truyền hình …) và các dịch vụ dựa trên nền tảng viễn thông đã và đang được cung cấp tại tất cả các tỉnh thành trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa bởi các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn hiện nay như VNPT, Viettel, Mobifone, FPT Telecom, SCTV, ….
Do vậy, nhu cầu về nhân lực chuyên môn về ngành viễn thông luôn có tại các tỉnh thành trên cả nước. Bên cạnh đó, với uy tín của Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông, bạn sẽ nhiều cơ hội việc làm khi quyết định về quê.
Câu hỏi: Mức lương của kỹ sư ngành điện tử viễn thông có cao không?
Trả lời: Mức lương của kỹ sư ngành điện tử viễn thông tùy thuộc vào năng lực chuyên môn, vị trí công việc và kinh nghiệm của ứng viên.
Nếu bạn là kỹ sư mới ra trường, mức lương cơ bản của các công ty thường là từ 15 triệu chưa kể phụ cấp.
Bạn có thể tham khảo qua các thông tin tuyển dụng gần đây như:
Câu hỏi: Các công ty mà sinh viên có thể làm sau khi tốt nghiệp là công ty nào?
Trả lời: Sau khi tốt nghiệp, sinh viên ngành điện tử viễn thông có thể làm việc tại các công ty sau:
Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông như VNPT, Viettel, FPT Telecom, Mobifone, Vinaphone, SCTV …
Các doanh nghiệp cung cấp giải pháp về mạng viễn thông, chế tạo thiết bị, kinh doanh thiết bị về viễn thông như Ecricsson, Huawei, ACE Technologies, Sao Bắc Đẩu, CT-IN …
Các công ty thiết kế chip, cung cấp dịch vụ về phần mềm và phần cứng cho ngành viễn thông như: Renesas, TMA Solutions, DEK Technologies, DXC Technology, Robert Bosch Engineering and Bussiness Solutions, …
Câu hỏi: Học ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, cơ sở tại TP.HCM có thể đi du học không?
Trả lời: Khoa Viễn thông 2 (khoa phụ trách ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, cơ sở tại TP.HCM) là đơn vị rất có uy tín về đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam và trên thế giới hiện nay. Các bạn sinh viên ngành điện tử viễn thông sau khi ra tốt nghiệp có kết quả học tập và nghiên cứu tốt hoàn toàn đủ khả năng để xin học bổng và du học tại nước ngoài như Mỹ, Pháp, Đức, Hàn Quốc, …
Câu hỏi: Em là nữ, em đăng ký học ngành điện tử viễn thông, có phù hợp không? Ra trường em có dễ xin việc làm không?
Trả lời: Trong ngành điện tử viễn thông có nhiều mảng công việc mà các bạn nữ hoàn toàn có thể làm tốt và phù hợp với khả năng, sức khỏe của mình. Ví dụ như: thiết kế chip, thiết kế và lập trình cho thiết bị viễn thông, mạng viễn thông, cung cấp giải pháp và kinh doanh thiết bị viễn thông, … Hiện nay, nhu cầu nhân lực cho các mảng công việc trên rất nhiều, nên bạn cũng sẽ có rất nhiều cơ hội để có một vị trí công việc tốt sau khi tốt nghiệp.
Câu hỏi: Em yêu thích lập trình, em có thể học ngành điện tử viễn thông không?
Trả lời: Trong ngành điện tử viễn thông, có thể chia làm hai mảng công viêc liên quan đến phần cứng và phần mềm của thiết bị và hệ thống viễn thông. Trong đó, mảng phần mềm đòi hỏi người vận hành phải có khả năng lập trình, thiết kế, khai báo dịch vụ trên máy tính và trên thiết bị. Vì vậy, nếu em thích lập trình thì hoàn toàn phù hợp với ngành điện tử viễn thông.
Nếu em yêu thích lập trình, em có thể chọn định hướng nghề nghiệp là kỹ sư nghiên cứu hay kỹ sư mạng máy tính, hay kỹ sư hệ thống Internet vạn vật (IOT). Tất cả các vị trí trên đều liên quan trực tiếp đến lập trình.
Câu hỏi: Ngành điện tử viễn thông có khó không? So với ngành công nghệ thông tin là như thế nào?
Trả lời: Ngành Điện tử Viễn thông (ĐTVT) và Công nghệ Thông tin (CNTT) là hai ngành gần với nhau, cùng thuộc nhóm ngành Thông tin – Truyền thông (ICT). Trong đó, ngành ĐTVT tập trung vào phần truyền thông tin, làm việc trên thiết bị và hệ thống truyền thông. Ngành CNTT tập trung vào phần mềm và quản lý thông tin, làm việc trên máy tính và mạng máy tính. Như vậy, mỗi ngành có đặc thù và các yêu cầu/độ khó khác nhau. Việc học/việc làm khó hay dễ như thế nào thì tùy thuộc vào sự tập trung học tập/làm việc của người học và quan trọng là khả năng và sự yêu thích của người học. Vì vậy, các bạn khi chọn ngành để học cần cân nhắc kỹ khả năng và sở thích của mình có phù hợp với ngành học hay không.
Câu hỏi: Em không quá giỏi toán, em có thể học ngành điện tử viễn thông không?
Trả lời: Toán là môn học nền tảng cho tất cả các ngành kỹ thuật nói chung và ngành điện tử viễn thông nói riêng. Người học giỏi toán là một lợi thế khi theo học ngành điện tử viễn thông. Tuy nhiên, không bắt buộc người học phải rất là giỏi toán. Với mức độ trung bình khá trở lên thì bạn vẫn có thể tiếp thu được các kiến thức của ngành và làm việc tốt, nhất là với các mảng công việc mang tính ứng dụng.
Câu hỏi: Em yêu thích làm phần cứng mạng, em có thể học ngành điện tử viễn thông không?
Trả lời: Mạng máy tính là một phần của mạng viễn thông, có trong chương trình đào tạo của ngành điện tử viễn thông. Vì vậy, nếu bạn thích làm phần cứng mạng thì ngành điện tử viễn thông là một lựa chọn tốt cho bạn.
Câu hỏi: Em yêu thích về điện thoại di động, em có thể chọn chuyên ngành nào? Ra trường em sẽ làm việc gì?
Trả lời: Nếu bạn thích lập trình, tạo game, tạo ứng dụng trên điện thoại di động thì bạn có thể chọn ngành công nghệ thông tin hay công nghệ đa phương tiện. Nếu bạn muốn biết cơ chế hoạt động của điện thoại di động, cách thức truyền thông tin, cung cấp dịch vụ cho thiết bị di động thì bạn có thể chọn ngành điện tử viễn thông, chuyên ngành vô tuyến. Khi ra trường, bạn có thể làm việc tại các công ty như Mobifone, Viettel, Vinaphone, …
Câu hỏi: Trong quá trình học đi thực tập mấy lần? Trường có giới thiệu nơi thực tập cho sinh viên không? Thực tập có lương không?
Trả lời: Sinh viên sẽ đi thực tập 1 lần sau khi kết thúc học kỳ 8. Với vai trờ quản lý ngành đào tạo, Khoa Viễn thông 2 thường xuyên làm việc với các công ty, doanh nghiệp về việc hợp tác, tiếp nhận và tạo điều kiện tốt nhất để sinh viên ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, cơ sở tại TP.HCM, đi kiến tập và thực tập tại đơn vị. Sinh viên sẽ chủ động chọn nơi thực tập cho mình theo hướng dẫn của Khoa và giáo viên hướng dẫn. Hình thức thực tập như thế nào, có lương, phụ cấp hay không, tùy thuộc vào đơn vị thực tập. Ví dụ như thông tin tuyển thực tập sinh của Viettel Net:
Câu hỏi: Em thích ngành điện tử viễn thông nhưng ba mẹ nói em không có năng khiếu nên không đồng ý. Vậy em nên nói gì để thuyết phục được ba mẹ?
Trả lời: Trước tiên, em nên tìm hiểu kỹ về ngành điện tử viễn thông để xem có giống như những gì mình nghĩ hay không. Em sẽ thấy ngành điện tử viễn thông sẽ có nhiều mảng công việc khác nhau liên quan đến phần cứng, phần mềm, kỹ năng lập trình, kỹ năng giao tiếp … Nếu em thấy khả năng của mình có thể đáp ứng được một mảng công việc trong đó và đúng với sở thích của mình thì có nghĩa là ngành điện tử viễn thông phù hợp với mình. Khi đó, em sẽ đem những gì mình tìm hiểu được để trình bày lại với ba mẹ. Chắc là ba mẹ sẽ đồng ý với lựa chọn của em thôi.
Câu hỏi: Em thích ngành điện tử viễn thông nhưng ba mẹ nói em không có năng khiếu nên không đồng ý. Vậy em nên nói gì để thuyết phục được ba mẹ?
Trả lời: Trước tiên, em nên tìm hiểu kỹ về ngành điện tử viễn thông để xem có giống như những gì mình nghĩ hay không. Em sẽ thấy ngành điện tử viễn thông sẽ có nhiều mảng công việc khác nhau liên quan đến phần cứng, phần mềm, kỹ năng lập trình, kỹ năng giao tiếp … Nếu em thấy khả năng của mình có thể đáp ứng được một mảng công việc trong đó và đúng với sở thích của mình thì có nghĩa là ngành điện tử viễn thông phù hợp với mình. Khi đó, em sẽ đem những gì mình tìm hiểu được để trình bày lại với ba mẹ. Chắc là ba mẹ sẽ đồng ý với lựa chọn của em thôi.
Câu hỏi: Chương trình đào tạo ngành điện tử viễn thông được giảng dạy bằng tiếng Anh hay tiếng Việt và có giảng viên người nước ngoài tham gia giảng dạy không?
Trả lời: Chương trình hiện nay chỉ đào tạo bằng tiếng Việt. Theo kế hoạch sắp tới, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, cơ sở tại TP.HCM sẽ mở ngành đào tạo chất lượng cao, giảng dạy một số môn học bằng tiếng Anh và có thể có giáo viên nước ngoài tham gia giảng dạy.
Câu hỏi: Em được biết học phí của chương trình trên website. Vậy cho em hỏi học phí này có phát sinh gì thêm không và trường có chính sách hỗ trợ học phí dành cho sinh viên không?
Trả lời: Tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, cơ sở tại TP.HCM, học phí được thu theo học kỳ căn cứ vào số tín chỉ mà sinh viên đăng ký nhân với đơn giá của một tín chỉ. Trong các học kỳ sau, tùy theo số tín chỉ sinh viên đăng ký học và đơn giá tín chỉ tại thời điểm đăng ký, học phí của mỗi học kỳ sẽ thay đổi.
Mỗi học kỳ, Học viện đều có học bổng khuyến khích dành cho sinh viên đạt kết quả cao trong học tập và các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.
Câu hỏi: Chương trình học chú trọng thực hành, cụ thể là có những ứng dụng như thế nào?
Trả lời: Các ứng dụng thực tế mà sinh viên có thể thực hành: hàn nối sợi quang, đo thử tuyến quang bằng máy đo công suất, máy đo OTDR là những máy đo đang được sử dụng trên mạng lưới …
Câu hỏi: Trường có đảm bảo việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp không?
Trả lời: Sinh viên sau khi tốt nghiệp có xin được việc làm phù hợp, đúng chuyên ngành đào tạo hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó quan trọng nhất là năng lực của ứng viên và nhu cầu tuyển dụng của các công ty tại thời điểm tuyển dụng. Trường không thể đảm bảo bảo cho tất cả sinh viên về việc này được. Tuy nhiên, Khoa Viễn thông 2 có thể khẳng định: Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông luôn nằm trong top đầu trong danh sách các trường đại học hay nơi đào tạo mà các công ty mong muốn tuyển dụng cho các vị trí công việc liên quan đến lĩnh vực điện tử viễn thông.
Ngành Kỹ Thuật Điện Tử Viễn Thông là ngành sử dụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến để tạo nên các thiết bị vệ tinh, cáp và thiết bị điện tử như: máy thu hình, điện thoại, máy tính cá nhân, máy tính bảng,… nhằm xây dựng hệ thống mạng thông tin liên lạc trên toàn cầu, giúp cho việc trao đổi thông tin giữa con người với nhau diễn ra thuận lợi trong những điều kiện không gian và thời gian khác nhau.
Tác phẩm: BÀI THI TÌM HIỂU VỀ NGÀNH KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG
Là ngành sử dụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến để tạo nên các thiết bị vệ tinh, cáp và thiết bị điện tử như: máy thu hình, điện thoại, máy tính cá nhân, máy tính bảng,… nhằm xây dựng hệ thống mạng thông tin liên lạc trên toàn cầu, giúp cho việc trao đổi thông tin giữa con người với nhau diễn ra thuận lợi trong những điều kiện không gian và thời gian khác nhau.
Viễn thông (Telecommunications) là việc truyền dẫn thông tin giao tiếp qua một khoảng cách đáng kể về địa lý. Điện tử Viễn thông là ngành sử dụng những công nghệ tiên tiến, tạo nên các thiết bị giúp cho việc truy xuất thông tin bạn muốn có. Lĩnh vực Điện tử nghiên cứu và chế tạo ra các vi mạch điện tử – “bộ não” điều khiển toàn bộ hoạt động của các thiết bị thông minh. Còn lĩnh vực Viễn thông nghiên cứu và sử dụng các thiết bị để tạo nên các mạng viễn thông. Mạng lưới này truyền thông tin từ đầu phát tới đầu thu, gồm các thành phần chính: thiết bị chuyển mạch, thiết bị truyền dẫn, môi trường truyền, thiết bị đầu – cuối.
Các môn chuyên ngành được Trường Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông đào tạo :
IoT là từ viết tắt của Internet of Things – “Internet vạn vật” hay “Mạng lưới vạn vật kết nối”. IoT định hướng kết nối những thiết bị, công cụ, đồ vật trong đời sống hàng ngày với internet để con người có thể giao tiếp, truy cập, điều khiển, thu thập được thông tin và quản trị các thiết bị đó nhằm làm tăng hiệu suất, hiệu quả sử dụng.
IOT được ứng dụng trong các lĩnh vực như :
Nông nghiệp thông minh
Đô thị thông minh
Nhà máy thông minh
Văn phòng thông minh
Nhà thông minh
Một người làm về IoT nên biết code (lập trình), chỉ khác là họ lập trình ở layer nào thôi. Chẳng hạn: lập trình ở mã máy, hệ điều hành, firmware hay lập trình trên ứng dụng.
Các kiểu tuyển dụng chính sau khi học IOT ra trường:
Khi team không có kỹ năng hoặc có nhưng rất yếu, không đáp ứng được yêu cầu phát triển của sản phẩm : nhà tuyển dụng sẽ chọn những bạn có kỹ năng mà team còn thiếu để bù trừ hoặc những bạn đã từng làm sản phẩm mà nhà tuyển dụng định làm. Và ưu tiên các bạn có chuyên môn cao. Ví dụ: AI, Machine Learning, sản xuất phần cứng, xử lý lập trình trên camera…
Team có năng lực nhưng số lượng nhân lực hiện tại không đủ: nhà tuyển dụng sẽ ưu tiên chọn những bạn senior, có khả năng deliver tốt để kịp tiến độ dự án.
Khi không có áp lực về yêu cầu sản phẩm hay nguồn lực thì nhà tuyển dụng sẽ đề xuất tuyển các bạn fresher để đào tạo vì các bạn ấy học hỏi khá nhanh.
Chuyên ngành thông tin quang:
Là quá trình phát tín hiệu quang, cách thức xử lý tín hiệu quang và việc truyền tín hiệu đi trên sợi quang
Thông tin quang là một phương thức dùng ánhsáng để truyền dẫn thông tin
Chuyên ngành Mạng Vô Tuyến:
Sinh viên được nghiên cứu các hệ thống và kỹ thuật vô tuyến, sử dụng công nghệ vô tuyến điện tử.
Sinh viên được tham gia thiết kế hệ thống và thiết bị vô tuyến trên cơ sở lý thuyết dao động, sóng điện từ, được nghiên cứu và thiết kế các bộ thu phát vô tuyến.
Cơ hội làm việc của những người học điện tử viễn thông :
Người học viễn thông ra trường học gì là điều băn khoăn lớn nhất của các bạn sinh viên, ngành điện tử viễn thông được xem là ngành có nhiều cơ hội việc làm, ngành tiềm năng trên con đường sự nghiệp. Nhiều năm nay tỷ lệ đó vẫn không có dấu hiệu giảm. Và trong tương lai nó tiếp tục là nhanh có nhu cầu tuyển dụng cao. Không những vậy người theo học và làm việc ở ngành điện tử viễn thông có rất nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp, vi ngành này là một ngành rộng nên có khả nhiều lựa chọn cho những sinh viên theo học ngành này. Bên canh đó người làm điện từ viễn thông là có mức thu nhập khả cao, và ổn định, dưới dây là một số công việc được xem là có mức thu nhập cao và nhu cầu tuyển dụng cao, bạn có thể tham khảo. Người học điện tử viễn thông có thể làm chuyên viên thiết kế, tối ưu mang. quy hoach mang. tại các công ty viễn thông… Người học điện tử viễn thông có thể ứng tuyển vào các vị trí như chuyên viên tư vấn, vận hành, điều hành kỹ thuật. thiết kế.. Người học thông tin điện tử có thể làm việc ở rất nhiều nơi trong đài truyên hình, làm việc trong các đài phát thanh… những công ty chuyên về lĩnh vực truyền thông điện tử, những công ty sản xuất mạch điện tử viễn thông… Có thể đảm nhận vai trò giám đốc kỹ thuật tại các công ty doanh nghiệp, có thể tng tuyến làm các vị trí trường bộ phản kỹ thuật tại các công ty doanh nghiệp trong linh vực điện tử viên thông. truyền thông. nếu người do thực sự có näng lực và kinh nghiệm, thì cơ hội việc làm là rất nhiều. Ngoài ra còn rất nhiều vị tri khác để bạn có thể lựa chon và ứng tuyển tùy theo năng lực và sở các vị trí trường bộ phận kỹ thuật tại các công ty doanh nghiệp trong lĩnh vực điện tử viễn thông, truyền thông…. nếu người đó thực sự có năng lực và kinh nghiệm, thì cơ hội việc làm là rất nhiều. Ngoài ra còn rất nhiều vị trí khác để bạn có thể lựa chọn và ứng tuyển tùy theo năng lực và sở thích của mình, bạn cũng có thể ứng tuyển vào các vị trí nhân viên, chuyên viên thiết kế, quy hoạch mạng và tối ưu mạng tại các công ty viễn thông, công ty sản xuất phần mềm thế giới di động, các công ty thuộc lĩnh vực công nghệ điện tử. Người theo làm ngành điện tử viễn thông có mức lương dao động trong khoảng từ 7 triệu đối với sinh viên mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm. Với những người có chút ít kinh nghiệm làm việc thì mức lương trong khoảng 10 triệu đến 30 triệu. Còn những người có kinh nghiệm làm việc lâu năm, có năng lực thi mức lương sẽ theo thỏa thuận. Ngành này chỉ sợ không có nhân tài chứ không sợ thất nghiệp, nhiều doanh nghiệp, công ty trải thảm đỏ kêu gọi ứng viên có năng lực, ngoài ra còn rất nhiều chế độ đãi ngộ với nhân viên để giữ chân nhân viên ở lại công ty cong hiến. Có thể thấy đây là một công việc tiềm năng. Nếu bạn là những người trẻ có đam mê với điện tử viễn thông khi theo học ngành này bạn sẽ có rất nhiều cơ hội, cơ hội được học hỏi, cơ hội được nâng cao kiến thức, được làm việc trong môi trường năng đong. Lĩnh vực điện tử y sinh cùng là một trong những ngành
4.Tố chất cần có khi học điện tử viễn thông :
Thông minh năng động:
Yếu tố thông minh năng động là không thể thiếu với người kỹ sư. Bạn cần phải thông minh sáng tạo tìm tòi ra những cái mới vì đây là một ngành rộng
Giỏi ngoại ngữ:
Đây là lĩnh vực điện tử viễn thông nên những thông tin tín hiệu, những tài liệu thường được viết bằng tiếng anh
Kiên trì và nhẫn lại:
Là yếu tố cần thiết trong tất cả các công việc đặc biệt là ngành điện tử viễn thông
Khả năng làm việc theo nhóm:
Là ngành công nghệ cao với hệ thống làm việc theo dây chuyền hiện đại, mỗi người đảm nhiệm 1 vai trò khác nhau nên cần khả năng làm việc nhóm tốt
Kỹ năng giao tiếp:
Kỹ năng này giúp cho việc trao đổi công việc giữa mọi người được hiệu quả hơn
Đam mê mà yêu thích điện tử viễn thông :
Là ngành rộng và tỷ lệ cạnh tranh khá cao chính vì vậy cần có sự đam mê và yêu thích với công việc thì mới có thể phát triển hơn nữa
Có thể nói rằng Ngành kỹ thuật điện tử- viễn thônglà một ngành không thể thiếu để có sự phát triển của mọi lĩnh vực trong cuộc sống và để thành công hơn thì tất yếu phải có sự góp mặt của ngành nghề này. Cũng vì như vậy mà ngành nghề này cũng đang thu hút khá nhiều nhân lực với nhiều cơ hội hấp dẫn.
Tác phẩm: Giới thiệu về ngành Kỹ thuật điện tử – viễn thông
Hiểu đơn giản vềngành điện tử kỹ thuật- viễn thông một chút, đây là ngành mà sử dụng các công nghệ, kỹ thuật để tạo nên các thiết bị như là vệ tinh, các thiết bị điện tử chẳng hạn như máy tính, tivi, điện thoại,… Với mục đích là tạo nên mạng lưới liên lạc toàn cầu, giúp cho sự trao đổi thông tin có thể diễn ra một cách dễ dàng mà không tốn nhiều thời gian hay lãng phí.
Theo xu thế hiện nay, khối ngành Cơ khí- Điện tử nói chung và ngành Kỹ thuật điện tử viễn thông nói riêng là một trong những ngành dẫn đầu về nhu cầu nhân lực cũng như trong đời sống kinh tế. Trong thời đại công nghệ số hiện nay thì vai trò của Kỹ thuật điện tử, viễn thông là không thể thay thế.
Ngành Điện tử Viễn thông ở Việt Nam đã và đang đóng góp một vai trò quan trọng và tích cực đối với nền kinh tế – xã hội. Nói chung chung thì nhu cầu về nhân lực trong ngành không bao giờ thừa.
Theo những chuyên gia phân tích nhu cầu về nhân lực, nhóm ngành kỹ thuật nói chung và ngành Kỹ thuật Điện tử – Viễn thông nói riêng là một trong những ngành được đánh giá cao về nhu cầu nhân lực trong thời đại công nghệ 4.0 như hiện nay.Một số kết quả thống kê cho thấy, nhóm ngành Cơ khí- Điện- Điện tử là 1 trong 10 nhóm ngành có nhu cầu tuyển dụng lớn nhân lực cao. Trong đó thì số lượng việc làm dành cho các kỹ sư Kỹ thuật điện tử sau tốt nghiệp rất lớn với mức thu nhập cao. Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, người học có thể đảm nhận những vị trí công việc cụ thể như: Chuyên viên tư vấn, thiết kế và vận hành, điều hành kỹ thuật tại các đài phát thanh, đài truyền hình, chuyên viên thiết kế, quy hoạch mạng và tối ưu mạng tại những công ty viễn thông, chuyên viên thiết kế truyền dẫn, vận hành, bảo trì tại các công ty điện tử, viễn thông…
Bên cạnh đó, bạn cũng có thể đảm nhận vai trò của Giám đốc kỹ thuật, Trường bộ phận kỹ thuật tại các công ty, doanh nghiệp trong lĩnh vực điện tử, viễn thông, truyền thông…Như vậy thì tố chất cần có để học ngành kỹ thuật điện tử- viễn thông là gì? Các công việc liên quan đến ngành điện tử viễn thông chịu ảnh hưởng rất nhiều của các yếu tố khách quan nên khi làm nó đòi hỏi phải có tính nhẫn lại và thực sự kiên trì.Điện tử viễn thông là công việc cần phải có sự ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống nên đòi hỏi người kỹ sư phải có tư chất thông minh và thực sự năng động, có niềm đam mê với khoa học, công nghệ mới và luôn cố gắng tìm tòi để có thể áp dụng nó vào thực tế ở Việt Nam.
Vì đây là một lĩnh vực đặc thù, chúng ta luôn phải có sự tìm hiểu các thông tin và các kỹ thuật mới tiến bộ trên thế giới, học tập tại các nước có ngành điện tử viễn thông phát triển. Vì vậy nên khả năng tiếng anh phải không ngừng được trao dồi, nếu bạn không có khả năng ngoại ngữ thì việc nắm bắt công nghệ mới thực sự sẽ gặp nhiều khó khăn.Do yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài nên ngành điện tử viễn thông luôn đòi hỏi người kỹ sư phải có tính nhẫn nại, không ngại khó ngại khổ. Vì vậy, nếu bạn không có tính kiên trì và nhẫn nại thì khi 1 hệ thống gặp khó khăn, bạn khó có thể giải quyết được sự cố xảy ra.
Bên cạnh đó, để kịp thời cập nhật với những công nghệ mới và tiên tiến nhất, đòi hỏi kỹ năng ngoại ngữ đọc viết tốt vì thông tin về chúng đều được viết bằng tiếng Anh, tiếng Đức… Mang đặc tính khối lượng công việc cao, phức tạp nên ngành Điện tử – Viễn thông vừa phải phát triển khả năng nghiên cứu độc lập, vừa trau dồi kỹ năng làm việc nhóm. Vì thế, việc trải nghiệm trong môi trường tiếng Anh theo chuẩn quốc tế từ khi còn học tập trên ghế nhà trường sẽ tạo nền tảng tốt và điều kiện thuận lợi cho các kỹ sư tương lai thích ứng với yêu cầu công việc.
Điện tử Viễn thông là một ngành có tốc độ đổi mới rất cao, đòi hỏi người học phát triển kỹ năng tư duy của mình, năng động, đam mê tìm tòi và thức thời với các công nghệ mới trên Thế Giới và áp dụng nó vào thực tế tại Việt Nam. Ngành này mang tính phủ sóng diện rộng nên chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài tác động rất nhiều, người kỹ sư điện tử – viễn thông cần kiên trì, nhẫn nại và có tinh thần vững vàng để ứng phó trước các sự cố hệ thống. Hơn hết, để thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào, người học cần có đam mê thật sự, có mục tiêu phấn đấu và sự quyết tâm theo đuổi công việc học tập, nghiên cứu phát triển trong dài hạn.
Vì sao cần có các tố chất trên? Vì Điện tử – Viễn thông là ngành nghiên cứu, sáng tạo công nghệ mới, các thiết bị Điện tử Viễn thông mới. Nếu bạn thích tìm tòi và sáng tạo thì đây có thể là sự lựa chọn phù hợp với bạn. Các kỹ sư làm việc trong lĩnh vực này dựa trên những ứng dụng của xã hội và ngành Điện tử Viễn thông nói riêng để phát triển các công nghệ mới, ứng dụng mới, hữu ích và đơn giản hơn cho mọi người.Để trở thành một người kỹ sư giỏi đòi hỏi mỗi người phải xây dựng cho mình những tố chất, những kinh nghiệm và không ngừng phải học hỏi để nâng cao năng lực bản thân, ứng dụng những kinh nghiệm kỹ thuật hiện đại để làm giàu mạnh đất nước.
Không những dẫn đầu trong cơ hội nghề nghiệp mà ngành này còn có mức thu nhập khá cao. Theo thống kê thì thu nhập trong ngành này có thể lên đến 2.000 USD/ tháng với những ứng viên có kinh nghiệm, có trình độ và năng lực thì sẽ không dừng lại ở đó.
Nhưng, để có mức lương ấn tượng như thế, thì ban đầu các ứng viên ngành này cũng phải trải qua giai đoạn có mức lương từ 7 đến 9 triệu đối với các bạn trẻ mới ra trường, chưa có nhiều kinh nghiệm. Sau đó mức lương sẽ tăng lên dần theo trình độ và kĩ năng. Mặt bằng chung thì mức lương của ngành này khá cao cho nên có thể thu hút khá đông người theo học.
Đây chính là lĩnh vực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ ngành Điện tử- Viễn thông, đem lại sự sáng tạo mới, phương thức liên lạc mới cho xã hội.
Nữ có nên theo học Điện tử – Viễn thông?
Điện tử Viễn thông vốn được mặc định là ngành học của các bạn nam, nhưng rất nhiều bạn nữ hiện nay cũng muốn theo học chuyên ngành này.
Ngành Điện tử Viễn thông – mới nghe cái tên là đã thấy … rất nam tính. Và thực tế đã chứng minh, số lượng sinh viên nữ học khoa Điện tử viễn thông hiện nay chiếm một tỉ lệ khá nhỏ. Nhưng thật ra vấn đề giới tính cũng không quá quan trọng khi thi vào ngành này, mặc dù có thể các bạn nữ sẽ gặp vài khó khăn khi đi học và đi xin việc: sức khỏe, thể hình thua các bạn nam nên khi làm việc mà phải bưng bê, lắp ráp, di chuyển nhiều sẽ yếu thế hơn. Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực khác như: kiểm tra lỗi, vẽ-thiết kế sơ đồ mạch… , nói chung là những việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận, nhạy cảm thì các bạn nữ sẽ có lợi thế hơn các bạn nam.
Như vậy, các bạn nữ học ngành Điện tử viễn thông là hoàn toàn bình thường nếu như thật sự thích thú và đam mê ĐTVT. Tất cả tùy thuộc vào sự phấn đấu, nỗ lực học tập và rèn luyện của các bạn mà thôi. Theo khảo sát ở nhiều trường, các bạn nam rất muốn có bạn nữ vào học ngành ĐTVT để khoa “cân bằng hơn” và dễ giao lưu ngoại khóa hơn.
Như vậy thì học ngành Kỹ thuật Điện tử- Viễn thông ở trường nào để có thể hiểu biết về ngành này cùng với đó là cơ hội tìm việc làm có thể tương đối dễ dàng?
Nói chung chung thì việc học và hiểu tốt thì là do mỗi bản thân của chúng ta mà thôi. Ở nước ta hiện có nhiều trường đại học đào tạo ngành Kỹ thuật Điện tử – Viễn thông (một số trường là ngành Công nghệ Kỹ thuật Điện tử – Viễn thông) đều có thể đáp ứng đủ tất cả các nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên. Đặc biệt là ngôi trường mang tênHọc viện Công nghệ Bưu Chính Viễn Thông. Một ngôi trường trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam. Với hai cơ sở đào tạo được đặt ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Do đó các bạn ở khắp vùng miền cả nước có thể đến và theo học tại trường. Nếu bạn đã đam mê với ngành Kỹ thuật Điện tử – Viễn Thông và bạn muốn theo học tại trường thì nơi đây có khoa Viễn thông sẽ thực hiện đam mê của bạn. Một khoa với những giảng viên tâm huyết với sinh viên coi trọng chất lượng dạy và học của sinh viên tại trường. Chưa hết ở cái ngôi trường này còn có những phòng thí nghiệm và thực hành về chính ngành nghề bạn đang học tạo thêm cho bạn sự thích thú nâng cao đam mê của mình với ngành. Chưa dừng lại ở đó, sau những giờ học mệt mỏi hàng tuần, hàng tháng thì Liên chi đoàn của khoa thấu hiểu điều nên mọi người trong Liên chi đoàn tạo ra những sân chơi bổ ích cho mọi người để giải tỏa áp lục bản thân. Còn chần chờ gì nữa mà không đến ngayHọc viện Công nghệ Bưu Chính Viễn Thônghay có tên viết tắt là PTIT và hãy trở thành một PTITer nào!
Kỹ thuật Điện tử Viễn thông – cái tên không còn quá xa lạ trong thời buổi công nghệ số 4.0 hiện nay. Ngành học không đòi hỏi quá nhiều kỹ năng mà chỉ cần có đam mê, thích tư duy sáng tạo thì mọi thứ bạn có thể nắm trong tay. Ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông là ngành có tầm ảnh hưởng lớn trong thời buổi công nghệ 4.0 mà bạn không nên bỏ lỡ. Nếu như bạn chưa tìm được môi trường phù hợp đào tạo tốt ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông thì Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn Thông cơ sở tại TP.HCM sẽ là lựa chọn tốt nhất dành cho bạn.
Khi tôi bước chân vàoHọc viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cơ sở tại TP.HCMthì đã có rất nhiều ấn tượng khiến cho tôi đã quyết định ở lại theo học tại đây. Ấn tượng đầu tiên là hai bác bảo vệ rất thân thiện và nhiệt tình chỉ dẫn cho các bạn tân sinh viên. Tiếp đến là các anh chị trai xinh gái đẹp của các khóa trên hướng dẫn cho các bạn tân sinh viên nộp hồ sơ nhập học và tuần sinh hoạt công dân đầu khóa. Tôi tưởng rằng mình sẽ bị cô đơn trong thế giới này nhưng ngờ đâu tôi đã phát hiện ra hai đứa bạn không hẹn mà gặp đã học chung cấp ba cũng học ở đây nên đã không còn cô đơn nữa. Ngoài ra, tôi làm quen được với những người bạn rất vui tính tại đây và khi học quân sự chúng tôi thành một tiểu đội cùng ở chung một phòng. Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê tại miền Trung nên khi xa nhà vào đất Sài Gòn học tập tôi không thể nào không nhớ nhà, nhớ mảnh đất gắn liền với mình trong mười mấy năm được. Và tại ngôi trường này, cụ thể ngay trong lớp của tôi, tôi đã tìm được hẳn mấy vị đồng hương. Có được bạn là đồng hương cùng quê nên việc chia sẻ với nhau các vấn đề học tập, trò chuyện cũng vơi bớt đi nỗi nhớ quê hương trong tôi.
Tôi rất vui khi đã trở thành thành viên của đại gia đình PTIT (viết tắc của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn Thông), môi trường học tập đầy ắp tiếng cười của các bạn, anh chị sinh viên và những nụ cười thân thiện của giảng viên nhà trường không ngừng nỗ lực truyền đạt kiến thức cho thế hệ sinh viên. Trường cũng như LCĐ Khoa đã tạo ra các sân chơi bổ ích cho các bạn sinh viên nhằm giúp giao lưu và tìm hiểu giữa các bạn sinh viên và các khoa với nhau. Khi theo học tại trường các bạn sẽ được thực hành tại các phòng thí nghiệm với nhiều thiết bị hiện đại và công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Ngoài ra, khi học xong các bạn sẽ được nhà trường tư vấn giới thiệu việc làm tại các công ty lớn theo chuyên ngành của bạn. Trong thời gian vừa qua tôi đã được tư vấn nhiều hơn từ các thầy cô về ngành Kỹ thuật Điện tử Viễn thông, các chuyên ngành sau này, các kỹ năng cần có khi học cũng như cơ hội việc làm và các vị trí công việc sau này. Trong các chuyên ngành được giới thiệu và tự tìm hiểu, có một chuyên ngành rất đặc biệt đó là Internet of Things (IoT). Một mảng công nghệ tương đối quan trọng, góp phần lớn trong việc thúc đẩy nền công nghệ 4.0 hiện nay của nước ta phát triển hơn.
Kỹ thuật Điện tử Viễn thônghay còn gọi là Viễn thông (Telecommunications)được hiểu một cách đơn giản, đó là ngành sử dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến để tạo nên các thiết bị vệ tinh, cáp hay thiết bị điện tử như: máy thu hình, điện thoại, máy tính cá nhân, máy tính bảng,… Mục đích của nó là nhằm xây dựng hệ thống mạng thông tin liên lạc trên toàn cầu, giúp cho việc giao tiếp giữa mọi người diễn ra một cách thuận lợi, ngay cả trong điều kiện không gian và thời gian khác biệt. Sinh viên theo học ngành này sẽ được trang bị các kiến thức cơ sở cốt lõi và cần thiết về cấu kiện quang điện tử, mạch điện, điện tử tương tự, điện tử số và các quá trình xử lý tín hiệu. Ngoài ra, khối kiến thức ngành bao gồm viễn thông, hội tụ điện tử tin học – viễn thông,… cũng sẽ được đào tạo dưới các hình thức từ lý thuyết, thực hành đến thực tế mạng lưới.
Khoa Viễn Thông 2
Học Kỹ thuật Điện tử Viễn thông các bạn sẽ được đào tạo kiến thức chuyên môn về lĩnh vực điện tử, truyền thông và có khả năng tiếp cận với công nghệ kỹ thuật điện tử tiên tiến như mạng không dây; mạng truyền số liệu; vi ba số; hệ thống phát thanh truyền hình; công nghệ phân tích và xử lý tín hiệu, âm thanh, hình ảnh. Sinh viên có khả năng tiếp cận, nắm bắt các công nghệ kỹ thuật điện tử tiên tiến và hoạt động của mạng truyền thông hiện đại; đồng thời có khả năng thiết kế, xây dựng, khai thác, vận hành, sử dụng, bảo trì các thiết bị điện tử, thiết bị viễn thông.
Internet of Things (IoT) là gì? Ứng dụng của Internet of Things (IoT) trong cuộc sống đời ngày nay?
Internet of Things, chúng ta có thể hiểu mạng lưới vạn vật kết nối Internet hoặc là mạng lưới thiết bị kết nối Internet viết tắt là IoT (tiếng Anh: Internet of Things) là một kịch bản của thế giới, khi mà mỗi đồ vật, con người được cung cấp một định danh của riêng mình, và tất cả có khả năng truyền tải, trao đổi thông tin, dữ liệu qua một mạng duy nhất mà không cần đến sự tương tác trực tiếp giữa người với người, hay người với máy tính. IoT đã phát triển từ sự hội tụ của công nghệ không dây, công nghệ vi cơ điện tử và Internet. Nói đơn giản là một tập hợp các thiết bị có khả năng kết nối với nhau, với Internet và với thế giới bên ngoài để thực hiện một công việc nào đó. Hay hiểu một cách đơn giản IoT là tất cả các thiết bị có thể kết nối với nhau . Việc kết nối thì có thể thực hiện qua Wi-Fi, mạng viễn thông băng rộng (3G, 4G), Bluetooth, ZigBee, hồng ngoại… Các thiết bị có thể là điện thoại thông minh, máy pha cafe, máy giặt, tai nghe, bóng đèn, và nhiều thiết bị khác.
Trên cơ sở của xu hướng phát triển mạng, công nghệ, dịch vụ, yêu cầu nhân sự và kiến thức từ các doanh nghiệp, dự kiến xây dựng chương trình đào tạo ngành Kỹ Thuật Điện Tử Viễn Thông theo 3 chuyên ngành:
Mạng và Dịch vụ Internet
Thông tin vô tuyến và Di động
Hệ thống IoT
Với các mục tiêu như sau:
– Đáp ứng sự phát triển công nghệ ICT;
– Đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng của doanh nghiệp;
– Bám sát nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội;
– Hướng đến tính liên ngành nhằm đáp ứng các vị trí công việc trong xu hướng hiện nay và mở rộng khả năng làm việc của sinh viên điện tử viễn thông trong các lĩnh vực khác nhau;
– Hướng đến các công nghệ và lĩnh vực trọng tâm, phù hợp xu thế, có tiềm năng phát triển trong tương lai.
Cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp ngành Điện tử Viễn thông và IoT
Sinh viên tốt nghiệp ngànhKỹ thuật Điện tử – Viễn thông cũng như chuyên ngành IoT có khả năng đảm nhận công việc tại các vị trí như:
Chuyên viên tư vấn, thiết kế, vận hành, điều hành kỹ thuật tại các đài phát thanh, truyền hình;
công ty điện thoại cố định, di động;
công ty dịch vụ kỹ thuật điện tử viễn thông;
chuyên viên thiết kế, quy hoạch mạng và tối ưu mạng tại các công ty viễn thông;
chuyên viên thiết kế truyền dẫn, vận hành, bảo trì tại các công ty điện tử, công ty viễn thông,
Ngành Công Nghệ Internet Vạn Vật –IoT đang được nhận định là ngành có nhu cầu nhân lực lớn và mang lại thu nhập cao cho các kỹ sư IoT. Hiện ngành mới này đã được mở tại một số cơ sở đào tạo đại học như: Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông, ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH FPT, ĐH Điện lực, ĐH Bách khoa TP.HCM…
“Khát” nhân lực IoT trình độ cao
Sự phát triển của khoa học – công nghệ đã khiến thị trường lao động ngày càng xuất hiện nhiều ngành nghề mới chưa từng có. Mạng lưới kết nối vạn vật (IoT – Internet of Things) là một trong những lĩnh vực như vậy. Mới xuất hiện nhưng nó đã cho thấy những tiềm năng lớn về nhu cầu phát triển nhân lực.
Theo báo cáo “Nghề nghiệp của tương lai” do Diễn đàn Kinh tế Thế giới ấn hành năm 2018, 85% công ty được hỏi có khả năng hoặc đã mở rộng việc phân tích dữ liệu lớn (Big Data) của người dùng. Cũng với một tỷ lệ tương tự như vậy các công ty cho biết đã đầu tư vào các công nghệ như mạng lưới kết nối vạn vật (IoT), thị trường ứng dụng và web, điện toán đám mây…
Còn theo thống kê của tạp chí Forbes, một tìm kiếm nhanh trên LinkedIn – mạng xã hội chuyên dùng cho công việc – có thể thu về hơn 11 000 kết quả việc làm có đề cập đến IoT. Với nhu cầu phát triển to lớn, thị trường nhân lực của ngành IoT hứa hẹn sẽ còn tiếp tục bùng nổ trong những năm tới.
(Ảnh minh họa: Internet).
Rõ ràng IoT không còn là công việc của tương lai mà chính là công việc của hiện tại. Với nhu cầu phát triển to lớn, thị trường nhân lực của ngành hứa hẹn sẽ còn tiếp tục bùng nổ trong những năm tới.
Đó là về số lượng còn về thu nhập, IoT cũng là ngành mang lại khoản lương đáng kể cho những người trong ngành. Theo khảo sát của website payscale.com, mức lương của kỹ sư IoT có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ngành công nghệ thông tin. Ở Mỹ, một kỹ sư IoT trung bình nhận được 110.000 USD/năm. Ở Anh là 49.000 USD, còn ở Đức là hơn 62.000 USD.
Tại Việt Nam, từ năm 2017, cụm từ “Internet kết nối vạn vật” đã thường xuyên được nhắc đến trong các hội thảo khoa học, diễn đàn kinh tế hay chương trình đối thoại. Một số doanh nghiệp hàng đầu về công nghệ đã triển khai những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực này.
Trong phát biểu tại Hội thảo và Triển lãm quốc tế về Smart IoT Việt Nam hồi tháng 10/2018 với chủ đề “Hiện thực hóa tiềm năng và khai phá thị trường Internet vạn vật (IoT) của Việt Nam”, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định: “Chiến lược của Việt Nam đến năm 2020 là về cơ bản mỗi hộ gia đình Việt Nam có một đường truyền cáp quang, mỗi người dân một máy smartphone và hạ tầng di động 5G phủ rộng, ưu tiên cho IoT trước. Khi đó, Việt Nam sẽ là một trong số ít nước đảm bảo tốt cho hạ tầng kết nối IoT”.
Và đương nhiên, để hiện thực hóa khát vọng đó, Việt Nam sẽ cần một số lượng lớn kĩ sư IoT. Thế nhưng, do là chuyên ngành mới, thiếu cơ sở đào tạo nên thị trường vẫn đang “khát” nhân lực trình độ cao.
Theo thống kê sơ bộ, hiện nay đã có một số cơ sở giáo dục đại học đã tổ chức tuyển sinh và đào tạo các ngành, chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực IoT như: Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học FPT, ĐH Điện lực, ĐH Quy Nhơn, ĐH Bách khoa TP.HCM…
Trong đó, với ĐH Bách khoa Hà Nội, theo công bố tuyển sinh đại học chính quy năm 2019, ngôi trường nằm trong Top đầu về đào tạo ICT này đã cho biết “Hệ thống nhúng thông minh và IoT” là 1 trong 7 chương trình đào tạo mới của trường. ĐH Bách khoa Hà Nội cũng cho hay, hiện nay cùng với xu thế dịch chuyển sang nền kinh tế số, thị trường nhân lực Nhật Bản đang có nhu cầu rất lớn về nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực thiết kế điện tử nói chung, đặc biệt là nhân lực trong lĩnh vực hệ thống nhúng và IoT nói riêng. Vì thế, chương trình mới “Hệ thống nhúng thông minh và IoT” của ĐH Bách khoa Hà Nội được thiết kế với định hướng đáp ứng nhu cầu nhân lực làm việc tại Nhật Bản hoặc các Công ty Nhật Bản tại Việt Nam.
Sinh viên CNTT của Đại học FPT trong giờ học thực hành (Nguồn ảnh: fpt.edu.vn)
Đối với ĐH FPT, năm 2019 cũng là năm đầu tiên trường tuyển sinh chuyên ngành IoT. Theo chia sẻ của TS. Lê Trường Tùng – Chủ tịch ĐH FPT, mở các chuyên ngành mới, trong đó có chuyên ngành IoT, ĐH FPT muốn tạo môi trường đào tạo mang phong cách số để cho ra những lứa sinh viên số – Digital Student đáp ứng nhu cầu nhân lực số đang tăng mạnh từ thị trường nhân sự Việt Nam và thế giới.
Hiện tại, ĐH FPT đã công bố Quy chế tuyển sinh và nhận hồ sơ xét duyệt học bổng với mức ưu đãi từ 50% – 100%+. Thí sinh quan tâm đến chuyên ngành IoT của ĐH FPT, có thể tìm hiểu thông tin về chuyên ngành mới này trên website của trường tại địa chỉ: https://daihoc.fpt.edu.vn.
Đại diện ĐH FPT cũng cho biết, trong năm đầu tiên mở tuyển sinh chuyên ngành mới IoT, trường đã giải quyết khó khăn bằng cách đưa giáo trình của nước ngoài về Việt Nam giảng dạy. Những giáo trình này đều đã đạt chuẩn của Hiệp hội Máy tính (ACM), chuẩn đào tạo kỹ sư phần mềm của Accreditation Board for Engineering and Technology (ABET – Mỹ) và Hiệp hội Phần mềm Việt Nam (VINASA).
Đặc biệt, chương trình học được xây dựng trên cơ sở các dự án thực tế. Sinh viên được thực hành trực tiếp trên các thiết bị kết nối, mang lại môi trường thật nhất để thông hiểu kiến thức và tích lũy kinh nghiệm. Nhiều giảng viên của chương trình cũng đã được đào tạo bài bản tại Mỹ, Nhật Bản, Singapore…
Thêm vào đó, ĐH FPT còn sở hữu lợi thế mà các ĐH đào tạo cùng chuyên ngành không có được: trường được xây dựng trên nền tảng một tập đoàn công nghệ tiên tiến nên kiến thức giảng dạy được cập nhập liên tục, sinh viên có nhiều cơ hội tiếp xúc với môi trường làm việc thực tế, trường cũng sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy, giúp người học có thêm lợi thế để làm tốt công việc cả ở trong và ngoài nước.
Sau khi tốt nghiệp, sinh viên sẽ trở thành các kĩ sư, chuyên gia về IoT, có khả năng triển khai các dự án về nhà thông minh (smart home), thành phố thông minh (smart city), dịch vụ sức khỏe, tài chính, y tế…
Theo học ngành Kỹ thuật Viễn thông có thể là chìa khóa để tìm kiếm các công việc tốt hơn, có được nhiều kỹ năng hoặc phát triển sự nghiệp của bạn ở nước ngoài.
Hiện nay việc chiếm giữ các vị trí trống với các kỹ sư có năng lực đã trở thành một thách thức thực sự đối với các công ty. Theo cổng thông tin Professionals, lý do tại sao những chuyên gia đạt được một khóa đào tạo chất lượng hoặc chuyên về bất kỳ ngành kỹ thuật nào, có thể trở thành ứng cử viên lý tưởng cho bất kỳ công ty nào. Theo nghĩa này, Kỹ thuật Viễn thông là một lựa chọn nghề nghiệp tuyệt vời.
4 lợi thế khi học kỹ thuật điện tử viễn thông
1. Sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật điện tử viễn thông dễ dàng tìm được lời mời làm việc tốt
Lĩnh vực viễn thông là một trong những ngành tăng trưởng mạnh nhất trong những năm qua, cũng do cải cách được thực hiện, đây là một trong những ngành tạo ra nhiều việc làm hơn tại thời điểm hiện tại. Những người chọn giải pháp thay thế chuyên nghiệp này sẽ có rất nhiều cơ sở để tìm được những lời mời làm việc đầy hứa hẹn.
2. Sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật điện tử viễn thông cơ hội làm việc đa dạng ngành nghề
Kỹ thuật Viễn thông mở ra cánh cửa của các lĩnh vực khác nhau: điện thoại, công ty bảo mật, truyền hình, tự động hóa quy trình, trong số nhiều lĩnh vực khác. Ngoài ra, kiến thức mà nghề nghiệp này mang lại cho bạn cho phép bạn làm việc trong nghiên cứu, phát triển các quy trình mới, tạo ra phần cứng, v.v.
3. Kỹ thuật không chỉ là học toán
Không giống như những gì nhiều người tin tưởng, học kỹ thuật không chỉ đào tạo bạn về các mô hình toán học hoặc hành vi tín hiệu, mà nó là một nghề nghiệp mà bạn có thể học quản trị, cách mọi thứ hoạt động, giải quyết vấn đề, trong số hàng loạt kỹ năng không thể thiếu khác để đạt được thành công.
4. Sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật điện tử viễn thông khả năng phát triển sự nghiệp của bạn ở nước ngoài
Nếu bạn thấy ý tưởng đưa sự nghiệp chuyên nghiệp của mình sang lãnh thổ nước ngoài hấp dẫn, thì viễn thông là một trong những ngành có thể mở ra nhiều cánh cửa nhất. Ngoài ra, nếu bạn quan tâm đến việc cống hiến hết mình cho sự phát triển của công nghệ, ở nước ngoài, bạn có thể tìm thấy các phòng thí nghiệm của các công ty lớn nhất.
Kỹ thuật điện tử viễn thông là một nhánh của các vấn đề kỹ thuật được giải quyết bằng cách truyền và nhận tín hiệu và mạng. Theo định nghĩa cổ điển của viễn thông, chuyên ngành này nhóm ba lĩnh vực kiến thức: điện tử, truyền thông và viễn thông. Như chúng ta đã biết, điện tử là cơ sở của tất cả các hệ thống thông tin.
Theo nghĩa này, chúng tôi đã chuyển từ việc sử dụng các hệ thống chuyển mạch và điện báo cũ sang áp dụng các hệ thống hiện đại và phát triển hơn. Mặt khác, thông tin cũng rất cần thiết trong suốt quá trình này, vì nó cần được xử lý, điều chỉnh và truyền đi. Để kết thúc, Telematics chăm sóc mạng, bảo mật và giao thức. Hấp dẫn? Sau đó, chúng tôi cho bạn biết ngày qua ngày của một kỹ sư viễn thông như thế nào.
Hãy nhớ rằng để cống hiến cho ngành kỹ thuật viễn thông, hệ thống đại học có ba ngành nghề khác nhau: bằng kỹ sư điện tử viễn thông, bằng kỹ sư hệ thống viễn thông và bằng kỹ thuật công nghệ viễn thông. Còn bạn? Bạn đã quyết định nơi mình sẽ đào tạo để trở thành một kỹ sư chuyên nghiệp chưa?
Những nhiệm vụ của một kỹ sư điện tử viễn thông là gì?
Các chức năng phổ biến nhất của một kỹ sư viễn thông thường là:
Tạo hệ thống theo dõi sản phẩm.
Đang xử lý hình ảnh.
Phát triển hệ thống thông tin liên lạc.
Giảng bài
Bảo trì cơ sở hạ tầng viễn thông.
Kỹ sư điện tử viễn thông cần có những kỹ năng gì?
Như bạn nghĩ, nhiệm vụ của một kỹ sư viễn thông khá phức tạp và đòi hỏi trình độ chuyên môn hóa rất cao. Ngoài ra, nó được khuyến khích để có một loạt các kỹ năng cá nhân. Chúng tôi làm nổi bật những điều sau:
Chú ý nghiên cứu và phát triển các sản phẩm sáng tạo.
Sở thích cập nhật mọi thứ liên quan đến sản phẩm công nghệ.
Khả năng giải quyết vấn đề và làm việc theo nhóm.
Khả năng quản lý và tổ chức mạng.
Kiến thức nâng cao về phần mềm máy tính.
Có khả năng truyền tải thông tin chuyên ngành một cách dễ dàng.
Có khả năng nghiên cứu, viết và trình bày báo cáo.
Kỹ sư điện tử viễn thông có những công việc gì?
Các kỹ sư viễn thông thường làm việc với tư cách là nhà điều hành, nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, có những kết quả đầu ra khác cần được biết:
Ngân hàng: Các kỹ sư can thiệp vào các lĩnh vực như xu hướng tự động. Đó là, việc tạo ra các robot hoạt động tự chủ và theo thời gian thực trên các thị trường chứng khoán khác nhau. Ngoài ra, họ còn chịu trách nhiệm về hệ thống thông tin của các ngân hàng.
Logistics và Vận tải: Trong trường hợp này, họ xử lý các hệ thống theo dõi sản phẩm, vị trí của các đội xe, tạo ra các đường cao tốc thông minh, liên lạc giữa các phương tiện, v.v.
Hình ảnh: Bạn có phải là một trong những người thích TV kỹ thuật số hoặc 3D? Vì đằng sau những thành tựu này luôn có một kỹ sư viễn thông. Mặt khác, việc xử lý hình ảnh cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán y tế.
Phòng thủ: Trong lĩnh vực quốc phòng, viễn thông có ứng dụng đa dạng. Ví dụ, vật liệu trong suốt (không thể phát hiện bằng radar) hoặc thiết bị thực tế tăng cường cho binh lính.
Lĩnh vực viễn thông( điện tử viễn thông ) bao gồm các công ty giúp giao tiếp có thể thực hiện được trên phạm vi toàn cầu, cho dù đó là qua điện thoại hay Internet, qua sóng không dây hoặc cáp, qua dây hoặc không dây. Các công ty này đã tạo ra cơ sở hạ tầng cho phép gửi dữ liệu bằng lời nói, giọng nói, âm thanh hoặc video đến mọi nơi trên thế giới. Các công ty lớn nhất trong lĩnh vực này là các nhà khai thác điện thoại (cả có dây và không dây), các công ty vệ tinh, các công ty truyền hình cáp và các nhà cung cấp dịch vụ Internet .
Cách đây không lâu, lĩnh vực viễn thông bao gồm một câu lạc bộ các nhà khai thác lớn trong nước và khu vực. Kể từ đầu những năm 2000, ngành công nghiệp này đã bị cuốn vào quá trình phi điều tiết và đổi mới nhanh chóng . Ở nhiều nước trên thế giới, các công ty độc quyền của chính phủ hiện đã được tư nhân hóa và họ phải đối mặt với rất nhiều đối thủ cạnh tranh mới. Các thị trường truyền thống đã bị đảo lộn, khi sự phát triển của dịch vụ di động vượt xa đường truyền cố định và Internet bắt đầu thay thế giọng nói như một lĩnh vực kinh doanh chủ yếu.
Sự phát triển của lĩnh vực viễn thông
Ngành công nghiệp viễn thông bắt đầu vào những năm 1830, với việc phát minh ra điện báo, thiết bị liên lạc cơ khí đầu tiên. Nó đã rút ngắn thời gian liên lạc từ vài ngày xuống còn giờ — nhiều như công nghệ di động hiện đại đã rút ngắn khoảng thời gian gửi một lượng lớn dữ liệu từ hàng giờ xuống còn vài giây. Ngành công nghiệp mở rộng với mỗi phát minh mới: điện thoại, radio, tivi, máy tính, thiết bị di động. Những tiến bộ công nghệ này đã thay đổi cách mọi người sống và kinh doanh.
Tại một thời điểm, viễn thông yêu cầu dây vật lý kết nối gia đình và doanh nghiệp. Trong xã hội đương đại, công nghệ đã trở nên di động. Giờ đây, công nghệ kỹ thuật số không dây đang trở thành hình thức truyền thông chính.
Cấu trúc của ngành cũng đã thay đổi từ một số công ty lớn sang một hệ thống phi tập trung hơn với việc giảm bớt các quy định và rào cản gia nhập . Các công ty đại chúng lớn đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ, trong khi các công ty nhỏ hơn bán và cung cấp dịch vụ thiết bị, chẳng hạn như bộ định tuyến, thiết bị chuyển mạch và cơ sở hạ tầng cho phép giao tiếp này.
BÀI HỌC RÚT RA CHÍNH
Lĩnh vực viễn thông bao gồm các công ty truyền dữ liệu bằng lời nói, giọng nói, âm thanh hoặc video trên toàn cầu.
Thiết bị viễn thông, dịch vụ viễn thông và truyền thông không dây là ba phân ngành cơ bản của viễn thông.
Viễn thông ngày càng tập trung vào video, văn bản và dữ liệu, thay vì thoại.
Các công ty viễn thông có thể thu hút cả các nhà đầu tư theo định hướng tăng trưởng và thu nhập.
Mặc dù cổ phiếu riêng lẻ có thể khá biến động, nhưng ngành viễn thông nhìn chung đã thể hiện sự tăng trưởng ổn định trong dài hạn, vì viễn thông ngày càng trở thành một ngành cơ bản quan trọng, không phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh.
Cách các công ty viễn thông kiếm tiền
Trong tất cả các thị trường khách hàng, thị trường dân cư và doanh nghiệp nhỏ được cho là khó khăn nhất. Với hàng trăm người chơi trên thị trường theo đúng nghĩa đen, các đối thủ cạnh tranh chủ yếu dựa vào giá cả để đưa ra khẩu hiệu kiểm tra hàng tháng của các hộ gia đình; thành công chủ yếu dựa vào sức mạnh thương hiệu và đầu tư nhiều vào hệ thống thanh toán hiệu quả. Mặt khác, thị trường doanh nghiệp vẫn là thị trường ưa thích của ngành. Các khách hàng doanh nghiệp lớn, những người chủ yếu quan tâm đến chất lượng và độ tin cậy của các cuộc gọi điện thoại và cung cấp dữ liệu của họ, ít nhạy cảm về giá hơn so với các khách hàng dân cư. Ví dụ, các công ty đa quốc gia lớn chi tiêu mạnh tay vào cơ sở hạ tầng viễn thông để hỗ trợ các hoạt động ở xa. Họ cũng sẵn lòng trả tiền cho các dịch vụ cao cấp như mạng riêng bảo mật cao vàhội nghị truyền hình .
Các nhà khai thác viễn thông cũng kiếm tiền bằng cách cung cấp kết nối mạng cho các công ty viễn thông khác có nhu cầu và bằng cách bán buôn mạch cho những người dùng mạng nặng như các nhà cung cấp dịch vụ Internet và các tập đoàn lớn. Các thị trường bán buôn và kết nối với nhau ưu tiên những người chơi có mạng lưới rộng khắp.
Các phân khúc chính của ngành viễn thông
Lĩnh vực viễn thông bao gồm ba phân ngành cơ bản: thiết bị viễn thông (lớn nhất), dịch vụ viễn thông (lớn nhất tiếp theo) và truyền thông không dây.
Các phân đoạn chính trong các phân ngành này bao gồm:
Giao tiếp không dây
Trang thiết bị liên lạc
Hệ thống và sản phẩm chế biến
Người vận chuyển đường dài
Dịch vụ viễn thông trong nước
Dịch vụ viễn thông nước ngoài
Các dịch vụ thông tin liên lạc đa dạng
Lĩnh vực nhỏ nhất nhưng phát triển nhanh nhất trong lĩnh vực này là truyền thông không dây, khi ngày càng có nhiều phương pháp truyền thông và điện toán chuyển sang thiết bị di động và công nghệ dựa trên đám mây. Phần của ngành này là nền tảng dự đoán cho sự mở rộng toàn cầu liên tục của lĩnh vực viễn thông. Vẫn còn rất nhiều dư địa để tăng trưởng, ngay cả ở các nước phát triển: Ví dụ như vào năm 2018, Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) đã báo cáo rằng khoảng 1/5 dân số nông thôn Mỹ vẫn không có quyền truy cập vào mạng băng thông rộng. 1
Về phía trước, thách thức lớn nhất của ngành là bắt kịp nhu cầu của mọi người về kết nối dữ liệu nhanh hơn, độ phân giải cao hơn, truyền video nhanh hơn và các ứng dụng đa phương tiện phong phú. Việc đáp ứng nhu cầu của mọi người về kết nối nhanh hơn và tốt hơn khi họ sử dụng và tạo nội dung đòi hỏi chi tiêu vốn đáng kể . Các công ty có thể đáp ứng những nhu cầu này phát triển mạnh.
Đầu tư vào Viễn thông
Các công ty viễn thông là một công ty hiếm hoi trong số các cổ phiếu: Đôi khi, cổ phiếu của họ thể hiện các đặc điểm của cả cổ phiếu thu nhập và tăng trưởng. Đối với các nhà đầu tư tăng trưởng , các công ty nhỏ cung cấp dịch vụ không dây cung cấp cơ hội tốt nhất để tăng giá cổ phiếu . Ngược lại, các công ty lớn hơn kinh doanh thiết bị và dịch vụ có xu hướng là nơi trú ẩn cho các nhà đầu tư thận trọng, tập trung vào thu nhập .
Các nhà đầu tư giá trị cũng có thể tìm thấy những lựa chọn tốt trong lĩnh vực viễn thông. Nhu cầu về dịch vụ viễn thông, một phần không thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu, vẫn tồn tại bất kể những thay đổi trong chu kỳ kinh doanh. Tuy nhiên, trong khi nhu cầu không đổi, các nhà cung cấp riêng lẻ có thể tăng và giảm. Trong vài năm, một công ty có thể được hưởng các đặc quyền theo quy định của mình (giống như các dịch vụ tiện ích khác, các công ty viễn thông thường được bảo vệ khỏi cạnh tranh bởi sự ủy quyền của chính phủ) và tạo ra lợi tức cổ tức hào phóng, đáng tin cậy (được tạo ra bởi doanh thu hàng tháng cao từ cơ sở khách hàng ổn định của nó). Sau đó, đột nhiên, những tiến bộ công nghệ hoặc sáp nhập và mua lại tạo ra sự không chắc chắn và để lại chỗ cho sự mất mát — và sự phục hồi, với sự tăng trưởng mới.
Nếu một công ty rơi vào tình trạng lao dốc vì những thay đổi trong ngành (như tầm quan trọng ngày càng tăng của các thiết bị không dây), các nhà đầu tư giá trị có thể bắt kịp nó, miễn là các nguyên tắc cơ bản của nó vẫn vững vàng và nó chứng tỏ khả năng thích ứng với sự thay đổi. Thành tích của ngành viễn thông trong việc chi trả và thường xuyên tăng cổ tức khiến thời gian chờ đợi giá cổ phiếu cải thiện trở nên thú vị hơn.
Tuy nhiên, cả ba lĩnh vực viễn thông lớn trình bày một số rủi ro đối với nhà đầu tư, với cổ phiếu đăng ký bất kỳ từ 7% (đối với dịch vụ) đến 15% (không dây) đến 24% (thiết bị) nhiều biến động hơn so với thị trường rộng lớn hơn. Các nhà đầu tư tiếp xúc nhiều với lĩnh vực viễn thông có thể mong đợi mức tăng mạnh hơn mức trung bình trong các thị trường tăng giá . Tuy nhiên, khi suy thoái kinh tế hoặc thị trường giá xuống xảy ra, tổn thất từ lĩnh vực này có thể rất nghiêm trọng.
Đánh giá các công ty viễn thông
Khó có thể tránh khỏi kết luận rằng kích thước là vấn đề quan trọng trong lĩnh vực viễn thông. Đó là một công việc kinh doanh tốn kém; các đối thủ cần phải đủ lớn và tạo ra dòng tiền đủ để hấp thụ các chi phí của việc mở rộng mạng lưới và dịch vụ đã trở nên lỗi thời dường như chỉ trong một sớm một chiều. Hệ thống truyền động cần được thay thế thường xuyên hai năm một lần. Các công ty lớn sở hữu mạng lưới rộng khắp — đặc biệt là mạng cục bộ trải dài trực tiếp đến nhà khách hàng và doanh nghiệp — ít phụ thuộc hơn vào việc kết nối với các công ty khác để nhận cuộc gọi và dữ liệu đến đích cuối cùng của họ. Ngược lại, những người chơi nhỏ hơn phải trả tiền cho việc kết nối thường xuyên hơn để hoàn thành công việc. Đối với các nhà khai thác nhỏ hy vọng một ngày nào đó sẽ phát triển lớn mạnh, những thách thức về tài chính của việc theo kịp sự thay đổi công nghệ nhanh chóngkhấu hao thiết bị có thể rất hoành tráng.
Thu nhập có thể là một vấn đề phức tạp khi phân tích các công ty viễn thông. Nhiều công ty có rất ít hoặc không có thu nhập để nói đến. Để đánh giá giá trị của một công ty, các nhà phân tích ngành viễn thông có thể chuyển sang tỷ lệ giá trên doanh số (giá cổ phiếu chia cho doanh số bán hàng). Họ cũng xem xét doanh thu trung bình trên mỗi người dùng(ARPU), cung cấp một thước đo hữu ích về hiệu suất tăng trưởng và tỷ lệ churn , tỷ lệ khách hàng rời đi (có lẽ là đối với đối thủ cạnh tranh).
Đạo luật Viễn thông, được Tổng thống Bill Clinton ký thành luật vào năm 1996, đã được thông qua để kích thích sự cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông của Hoa Kỳ.
Những người chơi lớn trong lĩnh vực viễn thông
Các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp hiện tại trên toàn thế giới có thể thay đổi theo từng năm. Việc xác định cái nào là lớn nhất phụ thuộc vào việc người ta xem xét về tổng doanh số bán hàng hay cả về giá trị vốn hóa thị trường . Tính đến năm 2018, năm công ty viễn thông hàng đầu được xếp hạng theo giá trị vốn hóa thị trường như sau:
Verizon (VZ), cung cấp các dịch vụ không dây và hữu tuyến, ngoài các dịch vụ thông tin và băng thông rộng, có giá trị vốn hóa thị trường hiện tại khoảng 236 tỷ USD. 2 Nó vẫn hấp dẫn như một nhà cung cấp cổ tức vì điều kiện tài chính vững chắc: Nó là công ty viễn thông lớn nhất ở Mỹ và hoạt động tại 150 quốc gia. 3
China Mobile Ltd (CHL), chỉ mới hoạt động từ năm 1997, có giá trị vốn hóa thị trường xấp xỉ 1,14 nghìn tỷ USD do sự tăng trưởng trong việc sử dụng điện thoại di động và dịch vụ Internet ở Trung Quốc trong vòng 15 năm qua. 4 5
AT&T (T), công ty lâu đời nhất trong lĩnh vực kinh doanh điện thoại, có giá trị thị trường ước tính khoảng 209 tỷ USD. 6 China Mobile đã làm lu mờ AT&T chỉ trong hơn một thập kỷ kinh doanh. Tuy nhiên, Ma Bell trước đây vẫn chiếm 1/3 thị phần không dây của Mỹ và lịch sử tăng cổ tức ấn tượng trong 30 năm. 7
Vodafone Group (VOD), công ty viễn thông lớn nhất ở Vương quốc Anh, cung cấp các dịch vụ và thiết bị thoại, băng thông rộng, dữ liệu và có giá trị vốn hóa thị trường khoảng 48 tỷ USD. 8 9
Tập đoàn SoftBank của Nhật Bản , cung cấp phần mềm CNTT cũng như các dịch vụ không dây và Internet, có giá trị vốn hóa thị trường hiện tại chỉ hơn 168 tỷ USD. 10 11
Thứ hạng thay đổi đáng kể nếu bạn đánh giá về tổng doanh thu bán hàng. Trong khi Verizon, China Mobile và AT&T đều vẫn nằm trong top 5, Verizon tụt xuống vị trí thứ 2 sau Nippon Telegraph & Telephone Corporation (NTT) của Nhật Bản, là nhà sản xuất thiết bị viễn thông lớn ngoài việc cung cấp điện thoại cố định, điện thoại di động, và các dịch vụ Internet. Telefonica của Tây Ban Nha (TEF) lọt vào top 5 bảng xếp hạng dựa trên doanh thu.
Những người chơi nhỏ hơn trong lĩnh vực viễn thông
Một số cổ phiếu viễn thông bị mắc kẹt trong lãnh thổ cổ phiếu penny , giao dịch ở mức dưới 5 USD / cổ phiếu vì nhiều lý do. Những cái hiện tại ở cấp độ thể hiện lời hứa bao gồm những điều sau:
Tập đoàn Hệ thống Truyền thông Alaska (ALSK). Với khoảng cách xa với Hoa Kỳ tiếp giáp, Alaska khiến cơ sở hạ tầng trở nên phức tạp. Alaska Communications là nhà cung cấp băng thông rộng lớn nhất trong tiểu bang. 12
Cincinnati Bell (CBB) báo cáo gần 300.000 thuê bao Internet. 13 Cincinnati Bell tiếp tục tăng doanh thu và thúc đẩy tương lai của mình với sự phát triển trong lĩnh vực truyền thông cáp quang (gọi tắt là fioptics) và các dịch vụ CNTT. Điều này giúp thiết lập công ty thành công lâu dài và cũng giúp kết nối các khách hàng doanh nghiệp trên khắp Ohio và các khu vực xung quanh. 14
Frontier Communications (FTR) cung cấp dịch vụ viễn thông cho 25 tiểu bang và hoạt động từ năm 1935. Nó có hơn 3,75 triệu khách hàng dân cư và hơn 380.000 khách hàng doanh nghiệp. 15 16 17 Doanh thu có thể sẽ sớm tăng lên khi công ty tiếp tục tích hợp các thương vụ mua lại lớn từ Verizon và AT&T. Frontier đang đặt cược lớn vào việc dẫn đầu trong lĩnh vực truyền thông hữu tuyến trên toàn quốc và cũng đang mở rộng cơ sở băng thông rộng của mình ở các lãnh thổ mới để tăng doanh thu.
Vonage (VG) kết nối khách hàng với doanh nghiệp truyền thông đám mây của mình. Cả người tiêu dùng và doanh nghiệp đều sử dụng công nghệ của công ty để kết nối với các số điện thoại di động và điện thoại cố định trên toàn thế giới. Tính đến năm 2015, công ty đã có 98 bằng sáng chế và 245 đơn đăng ký đang chờ xử lý và Vonage đang tiếp tục làm việc để kiếm tiền từ chúng. Vonage cũng đang mạnh tay mua lại cổ phiếu của chính cổ phiếu mình. 18 Công ty đã mua số cổ phiếu trị giá 148 triệu đô la từ năm 2012. 19 Cổ phiếu Vonage giao dịch gần với biên giới của phạm vi cổ phiếu penny: từ 4,18 đô la đến 15,42 đô la trong 52 tuần qua.
ETF viễn thông
Một số quỹ giao dịch trao đổi (ETF) đóng vai trò là lựa chọn thay thế cho việc đầu tư trực tiếp vào các công ty viễn thông riêng lẻ. ETF viễn thông có các trọng tâm khác nhau về địa lý hoặc chuyên môn hóa ngành. Một số phổ biến nhất bao gồm:
Các Vanguard Communication Services ETF (VOX) là hoàn toàn sáng tác của chứng khoán Mỹ, từ các công ty viễn thông nhỏ, khu vực đến lớn ba, Verizon, AT & T, và T-Mobile. 20
Các iShares Mỹ Viễn thông ETF (IYZ), tương tự như trong cổ phần cho viễn thông Dịch vụ ETF Vanguard, cũng theo dõi các công ty dịch vụ viễn thông lớn nhất ở Mỹ-T-Mobile, AT & T và Verizon-cùng với một số ít các nhà cung cấp dịch vụ trong khu vực nhỏ hơn. 21
Các iShares toàn cầu Comm Dịch vụ ETF (IXP) là tập trung nhiều trường quốc tế, với hơn 30% số cổ phần của mình trong công ty có trụ sở bên ngoài các cổ phiếu đáng chú ý của Mỹ bao gồm các công ty viễn thông hàng đầu lăm xếp hạng bởi vốn hóa thị trường: Verizon, AT & T, China Mobile, Vodafone, và SoftBank Corp. 22
Các ETF viễn thông phổ biến khác bao gồm Chỉ số Dịch vụ Truyền thông Fidelity MSCI (FCOM) và SPDR S&P Telecom ETF (XTL). 23 24
Triển vọng ngành viễn thông
Các nhà phân tích dự đoán rằng sự đổi mới sản phẩm và sự gia tăng các hoạt động mua bán và sáp nhập sẽ chỉ tạo điều kiện cho sự phát triển liên tục và thành công của ngành viễn thông. Có rất nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư và sự gia tăng các nhà đầu tư sẽ chỉ mang lại lợi ích hơn nữa cho ngành.
Tốc độ tăng trưởng lịch sử trung bình hàng năm của lĩnh vực viễn thông.
Sự ổn định của tăng trưởng của ngành, ngay cả trong thời kỳ suy thoái , có nghĩa là nó được coi là một khoản đầu tư phòng thủ vững chắc trong khi vẫn duy trì sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tăng trưởng. Ngay cả trong thời kỳ kinh tế không chắc chắn và đầy biến động, nhu cầu ổn định về dịch vụ thoại và dữ liệu, cùng với các gói đăng ký mở rộng, đảm bảo nguồn thu ổn định cho các công ty viễn thông lớn.
Viễn thông ngày càng trở thành một ngành công nghiệp cơ bản quan trọng, báo hiệu cho triển vọng tương lai và sự tăng trưởng liên tục của nó. Những tiến bộ liên tục trong các dịch vụ di động tốc độ cao và kết nối Internet giữa các thiết bị tiếp tục thúc đẩy sự đổi mới và cạnh tranh trong ngành. Phần lớn trọng tâm của ngành là cung cấp các dịch vụ dữ liệu nhanh hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực video độ phân giải cao. Về cơ bản, động lực là hướng tới các dịch vụ nhanh hơn và rõ ràng hơn, tăng cường kết nối và sử dụng nhiều ứng dụng.
Các nền kinh tế thị trường mới nổi tiếp tục là lợi ích cho ngành, với tốc độ phát triển của ngành điện thoại di động ở các nước như Trung Quốc và Ấn Độ thúc đẩy khả năng của các nhà sản xuất phần cứng theo kịp mức nhu cầu.
Tại Mỹ, các nhà phân tích đang chú ý đến các vấn đề xung quanh tính trung lập ròng khi nhu cầu về các dịch vụ dữ liệu và video tiếp tục tăng trong tương lai. Vẫn có nhu cầu mạnh mẽ về quyền phổ không dây, như được chỉ ra bởi Phiên đấu giá ưu đãi của FCC diễn ra vào tháng 4 năm 2017, chưa kể đến xu hướng hợp nhất ngày càng tăng thông qua sáp nhập và mua lại. 25
Điểm mấu chốt
Các công ty viễn thông, giống như các hình thức tiện ích khác, thường hoạt động với cơ sở khách hàng ổn định được bảo vệ khỏi cạnh tranh bởi sự ủy quyền của chính phủ. Những công ty độc quyền giả này cho phép chia cổ tức nhất quán. Tuy nhiên, bản chất năng động của thông tin liên lạc đã dẫn đến các hệ thống điện thoại di động và dựa trên Internet, làm suy yếu nhu cầu về điện thoại cố định truyền thống. Khi điều này xảy ra, các công ty viễn thông hoặc phải chịu đựng hoặc thích nghi, kết hợp công nghệ mới và phát triển nhanh chóng khi người tiêu dùng mua thiết bị mới nhất.
Nguồn: Internet
Để biết thêm thông tin tuyển sinh về ngành kỹ thuật điện tử viễn thông các bạn tham khảoTại đây
Theo báo cáo “Nghề nghiệp của tương lai” do Diễn đàn Kinh tế Thế giới ấn hành năm 2018, 85% công ty được hỏi có khả năng hoặc đã mở rộng việc phân tích dữ liệu lớn (Big Data) của người dùng. Cũng với một tỷ lệ tương tự như vậy các công ty cho biết đã đầu tư vào các công nghệ như ngành Công Nghệ IoT, thị trường ứng dụng và web, điện toán đám mây…
Khái niệm:
✅ Ngành Công Nghệ IoT (Internet of Things), viết tắt là IoT là thuật ngữ có vẻ khá mới với nhiều người. Nó có nghĩa là Mạng lưới vạn vật kết nối Internet hoặc là Mạng lưới thiết bị kết nối. IoT được phát triển từ sự hội tụ của công nghệ không dây (cloud), công nghệ vi cơ điện tử và Internet. Nói một cách đơn giản nó là một tập hợp các thiết bị có khả năng kết nối với nhau. Với Internet và với thế giới bên ngoài để thực hiện một công việc nào đó.
✅ Hoặc có thể hiểu nôm na, IoT là tất cả các thiết bị có thể kết nối với nhau. Việc kết nối thì có thể thực hiện qua Wi-Fi, mạng viễn thông băng rộng (3G, 4G), Bluetooth, ZigBee, hồng ngoại… Các thiết bị có thể là điện thoại thông minh, máy pha cafe, máy giặt, tai nghe, bóng đèn, và nhiều thiết bị khác. IoT sẽ là mạng khổng lồ kết nối tất cả mọi thứ. Bao gồm các kết nối giữa người và người, người và thiết bị, thiết bị và thiết bị.
✅ Sự kết hợp giữa IoT và công nghệ nhận dạng khuôn mặt ngày càng phổ biến. Các nhà bán lẻ có thể nhận diện được khách hàng này là ai, ngay từ khi họ mới bước vào cửa hàng. Nhờ vào hồ sơ trực tuyến thu thập được và tải lên hệ thống. Điều này sẽ giúp các nhà bán lẻ cung cấp trải nghiệm mua sắm cá nhân hóa cao cho người tiêu dùng.
✅ Ngành Công Nghệ IoT cũng được ứng dụng để xây dựng thành công giỏ hàng mua sắm online. Nó cho phép người tiêu dùng tải lên danh sách sản phẩm của cửa hàng. Sau đó hướng dẫn họ tìm kiếm và lựa chọn được sản phẩm phù hợp. Cuối cùng, khách hàng chỉ cần xác nhận rõ một lần nữa các sản phẩm đang có trong giỏ hàng và thanh toán.
✅ Trong tương lai, nếu các nhà bán lẻ chịu cập nhật công nghệ IoT. Và sử dụng gắn tag điện tử (thẻ giá, thẻ thông tin) trên mọi sản phẩm. Qua đó sẽ giúp họ có thể cập nhật giá cả, thông tin sản phẩm bằng internet. Đồng thời, nhà bán lẻ có thể giám sát chính xác hơn việc dịch chuyển hàng hóa. Từ đó cải thiện việc quản lý hàng hóa trong kho. Nó sẽ giúp tiết kiệm thời gian nhiều hơn so với cách cập nhật thủ công bằng tay trước đây.
✅ Ngành Công Nghệ IoT đang được nhận định là ngành có nhu cầu nhân lực lớn và mang lại thu nhập cao cho các kỹ sư IoT. Hiện ngành mới này đã được mở tại một số cơ sở đào tạo đại học như: Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông, ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH FPT, ĐH Điện lực, ĐH Bách khoa TP.HCM…
Internet of Things (IoT) đang thay đổi cách chúng ta sống, làm việc, du lịch và kinh doanh. Công nghệ Internet Vạn Vật – IoT còn là cơ sở của một quá trình chuyển đổi công nghiệp mới, được gọi là Công nghiệp 4.0 , và là chìa khóa trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số của các tổ chức, thành phố và xã hội nói chung. Đủ lý do để hiểu bản chất của Internet of Things.
Internet of Things còn được gọi là IoT, bạn có thể tìm thấy nhiều định nghĩa bên dưới. Nhưng hãy bắt đầu đơn giản. Hãy nhìn nó theo cách này: mọi người có thể kết nối với các mạng kỹ thuật số và Internet bằng các thiết bị như điện thoại thông minh và máy tính, để chia sẻ thông tin, trò chuyện, mua hàng, v.v.
Về cơ bản, Internet of Things cho phép chúng ta kết nối ‘ mọi thứ ‘ với Internet( mạng sử dụng công nghệ Internet). Những thứ hoặc vật phẩm này có thể trao đổi thông tin giữa chúng và truyền dữ liệu đến các thiết bị và hệ thống khác. Họ cũng có thể nhận được dữ liệu. Thông tin họ chia sẻ có thể là về các đối tượng mà chúng được gắn vào và môi trường chúng đang ở (thông qua các cảm biến có nhiều hình dạng cho các thông số khác nhau). Các thiết bị và máy móc thông minh cũng có thể chia sẻ thông tin về trạng thái bên trong của chúng.
Vì vậy, họ không chơi trò chơi hay mua hàng trực tuyến mà thu thập dữ liệu, chia sẻ dữ liệu và tùy thuộc vào điều chính xác, họ có thể hành động dựa trên dữ liệu họ nhận được. Nói cách khác: các đối tượng vật chất và rất nhiều trong số chúng, còn hơn cả con người.
Những thứ vật lý có thể loại bỏ các công nghệ nhúng cho phép chúng làm tất cả điều này (do đó thường được gọi là ‘thông minh’) hoặc có thể khá ‘ngu ngốc’ như vậy nhưng được trang bị / gắn thẻ để được kết nối. Internet of Things là một thuật ngữ chung cho những thứ được kết nối này, cách chúng giao tiếp và truyền dữ liệu, các công nghệ cho phép chúng làm như vậy và lý do / mục tiêu tại sao điều này được thực hiện.
Mặc dù Internet of Things bắt đầu với cơ sở hạ tầng của những thứ được kết nối, cả lợi ích và rủi ro của nó chủ yếu liên quan đến các công nghệ mạng, hệ thống và ứng dụng được xây dựng trên lớp cơ bản này. Về lý thuyết, mọi thứ đều có thể được kết nối với Internet bằng cách sử dụng các công nghệ IoT: các đối tượng vật lý và sinh vật sống, bao gồm động vật và con người là ‘chúng sinh’. Tất cả mọi thứ hoặc các thành phần được kết nối của các đối tượng vật lý phức tạp hơn có thể được xác định và giải quyết duy nhất thông qua Internet of Things.
Ví dụ về những thứ bao gồm từ các thiết bị hướng đến người tiêu dùng như thiết bị đeo được và giải pháp nhà thông minh (Consumer IoT) đến thiết bị được kết nối trong doanh nghiệp (Enterprise IoT) và các tài sản công nghiệp như máy móc, robot hoặc thậm chí công nhân trong các nhà máy và cơ sở công nghiệp thông minh ( Industrial IoT , thành phần thiết yếu của Công nghiệp 4.0).
Câu hỏi không phải là bạn có thể kết nối điều gì mà là tại sao bạn lại làm như vậy: mục đích, kết quả. Và đây là rất nhiều mục tiêu tiềm năng xác định những thứ bạn muốn kết nối để bạn có thể nắm bắt dữ liệu từ chúng (và đã gửi từ, giữa và / hoặc cho chúng) . Đó là lý do tại sao bạn thường thấy sự khác biệt giữa IoT công nghiệp, IoT tiêu dùng và các thuật ngữ khác được đề cập trong phần tổng quan này.
Internet of Things là mạng lưới các đối tượng vật lý có chứa công nghệ nhúng để giao tiếp và cảm nhận hoặc tương tác với trạng thái bên trong của chúng hoặc môi trường bên ngoài (định nghĩa của Gartner)
Vì vậy, IoT là một thuật ngữ bao gồm nhiều trường hợp sử dụng, công nghệ, tiêu chuẩn và ứng dụng. Hơn nữa, đó là một phần của thực tế lớn hơn với nhiều công nghệ hơn nữa. Những thứ và dữ liệu là điểm khởi đầu và bản chất của những gì IoT cho phép và có ý nghĩa. Các thiết bị và tài sản IoT được trang bị thiết bị điện tử, chẳng hạn như cảm biến và thiết bị truyền động , thiết bị điện tử kết nối / truyền thông và phần mềm để thu thập, lọc và trao đổi dữ liệu về bản thân, trạng thái và môi trường của chúng.
Sự kết nối của ‘vạn vật’ IoT và việc sử dụng dữ liệu IoT cho phép nhiều cải tiến và đổi mới khác nhau trong cuộc sống của người tiêu dùng, trong kinh doanh, chăm sóc sức khỏe, di chuyển, thành phố và xã hội. Các mục tiêu tiềm năng của IoT thường được phân đoạn thành các trường hợp sử dụng IoT: các lý do mà IoT được triển khai. Ví dụ: theo dõi sức khỏe, theo dõi tài sản, giám sát môi trường, bảo trì dự đoán và tự động hóa nhà .
Có hàng trăm trường hợp sử dụng IoT, tùy thuộc vào ngành và / hoặc loại ứng dụng. Một số trường hợp sử dụng IoT tồn tại trong các ngành công nghiệp, những trường hợp khác thì theo chiều dọc hơn. Ví dụ: theo dõi tài sản là một trường hợp sử dụng phổ biến. Nó có thể là một ứng dụng dành cho người tiêu dùng để biết thú cưng hoặc ván trượt của bạn đang ở đâu. Nhưng nó cũng có thể có nghĩa là theo dõi các container trên một con tàu chở hàng khổng lồ. Cùng một nguyên tắc cơ bản, một thế giới khác biệt về công nghệ và bối cảnh.
IoT là động lực cần thiết cho sự đổi mới hướng tới khách hàng, tối ưu hóa theo hướng dữ liệu và tự động hóa, chuyển đổi kỹ thuật số, R & D và các ứng dụng, mô hình kinh doanh và dòng doanh thu hoàn toàn mới trên tất cả các lĩnh vực. Trong hướng dẫn kinh doanh IoT này, bạn có thể tìm hiểu về nguồn gốc, công nghệ và sự phát triển của IoT với các ví dụ kinh doanh, ứng dụng và nghiên cứu.
Internet of Things là bước tiếp theo hợp lý trong sự phát triển của Internet và là sự tiếp nối của mạng và công nghệ M2M (máy-to-máy) , xây dựng và mở rộng các công nghệ trong M2M, công nghệ di động, RFID và hơn thế nữa.
Chi tiêu trên toàn thế giới cho Internet of Things (IoT) được dự báo sẽ vượt qua mốc 1,0 nghìn tỷ đô la vào năm 2022, đạt 1,1 nghìn tỷ đô la vào năm 2023 (IDC)
IoT trải dài hơn những nguồn gốc này trong khi bao trùm chúng và ngày càng trở nên phổ biến hơn do một số yếu tố, bao gồm chi phí thấp hơn của cảm biến và các công nghệ và mạng cho phép.
Internet of Things hội tụ các ngành và lĩnh vực kinh doanh, hợp nhất Công nghệ thông tin và Công nghệ vận hành ( CNTT và OT ) và góp phần vào quá trình chuyển đổi công nghiệp (Công nghiệp 4.0) và làn sóng các trường hợp sử dụng trong IoT công nghiệp hoặc IIoT , phân khúc lớn nhất của các ứng dụng IoT và các khoản đầu tư. Các lĩnh vực đầu tư chính của Internet of Things (các ngành công nghiệp và các trường hợp sử dụng) bao gồm hoạt động sản xuất, giao thông vận tải, công nghệ lưới điện thông minh , tòa nhà thông minh và ngày càng tăng, Internet of Things cho người tiêu dùng, tự động hóa nhà thông minh và bán lẻ .
Từ khía cạnh kinh doanh, hệ sinh thái, theo nghĩa rộng là quan hệ đối tác, hợp tác, quan hệ đối tác kênh, liên minh và hệ sinh thái đổi mới / cộng tác cũng là chìa khóa của IoT.
Sự kết nối giữa các thiết bị vật lý với các khả năng giao tiếp và cảm biến được nhúng, bao gồm cả cảm biến và thiết bị truyền động, không phải là mới và đã có lịch sử lâu đời theo nghĩa của mạng M2M, đây là bước tiếp theo và rộng lớn hơn. Trong Internet of Things, các điểm cuối vật lý được kết nối thông qua các địa chỉ IP có thể nhận dạng duy nhất; nhờ đó dữ liệu có thể được thu thập, tổng hợp, giao tiếp và phân tích (ngày càng ở rìa mạng: điện toán biên và điện toán sương mù ) thông qua phần mềm và điện tử nhúng, các nút IoT và cổng IoT , các công nghệ kết nối bổ sung và đám mây, mạng và nền tảng IoT với sự tích hợp ngày càng tăng của AI, IoTvà các công nghệ khác như blockchain .
Internet of Things là sự kết nối với nhau của các điểm cuối (thiết bị và mọi thứ) có thể được định địa chỉ và xác định duy nhất bằng một địa chỉ IP (Internet Protocol) . Với Internet of Things, các thiết bị có thể được kết nối với Internet, cảm nhận, thu thập, nhận và gửi dữ liệu và giao tiếp với nhau và các ứng dụng thông qua công nghệ IP, nền tảng và giải pháp kết nối.
IoT là một lớp thông tin, tương tác, giao dịch và hành động bổ sung được thêm vào Internet nhờ các thiết bị được trang bị khả năng cảm biến, phân tích và giao tiếp dữ liệu, sử dụng các công nghệ Internet. Internet of Things tiếp tục là cầu nối giữa thực tế kỹ thuật số và vật lý, đồng thời cung cấp năng lượng cho tự động hóa dựa trên thông tin và cải thiện mức độ kinh doanh, xã hội và cuộc sống của con người.
Dữ liệu được thu thập, tổng hợp và phân tích được tận dụng cho một số trường hợp sử dụng, bao gồm các quyết định bảo trì, con người, bán tự trị và tự trị (theo đó luồng dữ liệu không chỉ đến từ các thiết bị hỗ trợ IoT mà còn được trao đổi giữa chúng, xảy ra bên trong chúng hoặc được được gửi cho họ dưới dạng hướng dẫn) , nghiên cứu khoa học, giám sát thời gian thực, trao đổi dữ liệu, mô hình kinh doanh mới và hơn thế nữa.
Trong một số ngành công nghiệp và công ty, việc tạo ra giá trị hữu hình bằng cách tận dụng sức mạnh của IoT đang diễn ra từ khá lâu như các ví dụ về IoT trong cuộc sống thực phong phú cho thấy.
Tuy nhiên, vẫn sẽ mất nhiều thời gian sau năm 2020 trước khi sự cường điệu hóa, những rào cản và hiểu lầm liên quan đến Internet of Things biến mất và những bất ổn và thách thức trong một số lĩnh vực được giải quyết. Hơn nữa, một cách tiếp cận mới triệt để đối với bảo mật sẽ là cần thiết, đặc biệt là vì các tổ chức thấy mình buộc phải vượt ra ngoài an ninh mạng trên tất cả các sáng kiến kỹ thuật số và nỗ lực bảo vệ dữ liệu của họ, áp dụng cách tiếp cận khả năng phục hồi không gian mạng toàn diện với IoT mở rộng đáng kể bề mặt tấn công.
Hiểu về IoT
Để hiểu được lợi ích, giá trị, bối cảnh và thậm chí cả các công nghệ của IoT, điều quan trọng là phải xem xét các ví dụ về các ứng dụng và ngành khác nhau.
Mặc dù IoT thường được tiếp cận như thể nó là một ‘thứ’, nhưng người ta cần hiểu sự khác biệt từ góc độ ứng dụng trong các lĩnh vực như Internet vạn vật công nghiệp, Internet vạn vật tiêu dùng và ngoài những “hương vị” và thuật ngữ này, các trường hợp sử dụng IoT được đề cập.
Việc sử dụng Internet of Things diễn ra ở các tốc độ khác nhau. Ví dụ, đầu tư IoT vào ngành sản xuất cao hơn nhiều so với bất kỳ ngành dọc nào khác và trong không gian Internet of Things (CIoT) dành cho người tiêu dùng (nói thêm về IoT trong sản xuất ) .
Điều này đã sẵn sàng để thay đổi mặc dù sản xuất toàn cầu vẫn sẽ chiếm phần lớn chi tiêu cho IoT (phần cứng, phần mềm, dịch vụ và kết nối) .
Công nghiệp sản xuất, cùng với giao thông vận tải và tiện ích là ba lĩnh vực đầu tư IoT chính và là một phần của cái được gọi là Internet vạn vật công nghiệp.
Internet of Things như một thực tế đang phát triển
Bất chấp những thách thức, tốc độ khác nhau và sự phát triển nhanh chóng mà chúng ta sẽ thấy cho đến những năm đầu tiên của thập kỷ tới, Internet of Things vẫn ở đây.
Trong kinh doanh và công nghiệp , có hàng nghìn trường hợp sử dụng Internet of Things và triển khai Internet of Things trong đời thực trên nhiều lĩnh vực khác nhau với ba ngành mà chúng tôi vừa đề cập, chiếm hơn một phần đáng kể trong việc triển khai và đầu tư như hình ảnh trên các chương trình bên phải.
Trong không gian tiêu dùng, có hàng nghìn thiết bị và ứng dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
3 ngành hàng đầu về chi tiêu cho Internet of Things năm 2016 và dự báo chi tiêu cho Internet of Things toàn cầu năm 2020
Các dự đoán về tác động kinh tế, các phân khúc phụ, công nghệ và số lượng thiết bị được kết nối IoT cũng tiếp tục phát triển.
Ngay cả khi đối với hầu hết mọi người, số lượng thiết bị IoT không phải là số liệu phù hợp, thì đó là số liệu thu hút sự chú ý nhất. Trong vài năm qua, các dự đoán về số lượng thiết bị IoT đã được xem xét từ trên xuống.
Đã mất hơn hai thập kỷ để ‘khái niệm’ Internet of Things trở thành hiện thực đang tác động và sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực kinh doanh và xã hội như chúng ta sẽ thấy ở phần xa hơn.
Mặc dù đã trở thành hiện thực, nhưng Internet of Things nói chung vẫn còn trong những ngày đầu tiên, bất kể sự chú ý lớn, những dự báo và con số ấn tượng cũng như những diễn biến và triển khai lớn trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, nếu bạn nhìn vào tiềm năng tổng thể của IoT, chúng tôi thực sự chỉ mới bắt đầu.
Các tiêu chuẩn, công nghệ, mức độ trưởng thành, thiết bị và ứng dụng tiếp tục phát triển khi các tác nhân khác nhau trong hệ sinh thái IoT đưa ra các nền tảng, mô hình phân tích dữ liệu mới và thậm chí phát triển các định nghĩa và quan điểm để làm cho các dự án IoT tốt hơn và thông minh hơn. Đồng thời, những thách thức liên quan đến quy định, bảo mật và dữ liệu đang được giải quyết – và thậm chí một định nghĩa IoT toàn cầu vẫn đang được tranh luận.
Nguồn gốc của Internet of Things: tất cả bắt đầu như thế nào
Ý tưởng về Internet of Things đã có từ khá lâu. Chúng ta thậm chí có thể quay ngược lại một thời gian rất dài nhưng sẽ bắt đầu vào cuối Thiên niên kỷ trước, nơi RFID là bước phát triển quan trọng đối với Internet of Things và thuật ngữ Internet of Things đã được đặt ra trong ngữ cảnh RFID (và NFC), theo đó chúng tôi đã sử dụng RFID để theo dõi các mặt hàng trong các hoạt động khác nhau như quản lý chuỗi cung ứng và hậu cần.
Nguồn gốc và nguồn gốc của Internet of Things không chỉ là RFID. Hãy nghĩ về mạng giữa máy và máy (M2M). Hoặc hãy nghĩ về các máy ATM (máy rút tiền tự động hoặc máy rút tiền) , được kết nối với các mạng liên ngân hàng, giống như điểm giao dịch của các trạm bán hàng nơi bạn thanh toán bằng thẻ ATM của mình. Các giải pháp M2M cho máy ATM đã tồn tại từ lâu, cũng giống như RFID. Các dạng mạng, thiết bị được kết nối và dữ liệu trước đây là nơi bắt nguồn của Internet of Things. Tuy nhiên, nó không phải là Internet of Things.
Vai trò và tác động của RFID
Vào những năm 90, các công nghệ như RFID, cảm biến và một số cải tiến không dây đã dẫn đến một số ứng dụng trong việc kết nối các thiết bị và “mọi thứ”.
Hầu hết việc triển khai RFID trong đời thực vào những ngày đó đều xảy ra trong lĩnh vực hậu cần, kho hàng và chuỗi cung ứng nói chung. Tuy nhiên, có nhiều thách thức và rào cản cần vượt qua, vì chúng tôi đã đề cập đến cuối năm 1999 trong một sách trắng dành cho một chuyên gia RFID người Bỉ nhắm mục tiêu vào ngành hậu cần (chủ yếu là kho bãi và hậu cần công nghiệp vì RFID vẫn còn đắt).
Dần dần, việc sử dụng RFID (và cùng với nó, một số NFC hoặc “giao tiếp trường gần”, công nghệ không dây) , trở nên phổ biến trong các lĩnh vực ngoài hậu cần và quản lý chuỗi cung ứng: từ giao thông công cộng, nhận dạng (từ vật nuôi đến người) , thu phí điện tử bộ sưu tập (xem hình ảnh) , kiểm soát truy cập và xác thực, giám sát giao thông, bán lẻ cho đến – hồi đó – các hình thức quảng cáo ngoài trời sáng tạo. Việc sử dụng ngày càng tăng đó, trong số những người khác, được thúc đẩy bởi chi phí thẻ RFID giảm, tiêu chuẩn hóa và NFC ngày càng tăng.
Từ RFID và M2M đến IoT
Khả năng gắn thẻ, theo dõi, kết nối và “đọc” và phân tích dữ liệu từ các đối tượng đi đôi với thứ sẽ được gọi là Internet of Things vào khoảng đầu Thiên niên kỷ này.
Rõ ràng là sự kết nối của các loại “sự vật” và ứng dụng – như chúng ta đã thấy trong RFID (và trong M2M và hơn thế nữa) – với Internet sẽ thay đổi rất nhiều. Nó có thể làm bạn ngạc nhiên nhưng các khái niệm về tủ lạnh được kết nối, cho bạn biết rằng bạn cần mua sữa, khái niệm về những gì hiện được gọi là thành phố thông minh và tầm nhìn về trải nghiệm mua sắm phong phú (không cần quét mã vạch và tận dụng thông tin thời gian thực thông minh thu được thông qua các thiết bị và hàng hóa được kết nối) quay trở lại từ trước khi thuật ngữ Internet of Things thậm chí còn tồn tại.
Một lần nữa, nó đã mất một thời gian dài. Hơn nữa, chúng ta không nên giảm Internet of Things chỉ thành những khái niệm phổ biến và được biết đến rộng rãi này, ngay cả khi sự chú ý liên quan đến IoT của người tiêu dùng chắc chắn đã dẫn đến sự chú ý ngày càng tăng đối với nó khi bạn sẽ đọc thêm.
Internet of Things được hình thành như thế nào trong bối cảnh của RFID
Theo phần lớn các nguồn, thuật ngữ Internet of Things được đặt ra vào năm 1999 bởi Kevin Ashton, người đồng sáng lập Trung tâm Auto-ID của MIT, nơi một tiêu chuẩn được phát triển cho RFID, chủ yếu từ quan điểm IoT bán lẻ (trong COVID -19 khủng hoảng, các giải pháp bán lẻ hỗ trợ IoT cũng đã chứng minh hiệu quả mang lại trải nghiệm mua sắm an toàn hơn, đảm bảo các quyết định kinh doanh dựa trên dữ liệu và phân tách vật lý trên một số lĩnh vực) .
Kevin Ashton – người đã đặt ra thuật ngữ Internet of Things – vào năm 2015 – Bởi Larry D. Moore, CC BY-SA 4.0
RFID tồn tại nhiều năm trước khi nói về Internet of Things như một hệ thống, kết nối thế giới vật chất và Internet thông qua các cảm biến hiện diện đa dạng. Nó cũng đã tồn tại khi ông đồng sáng lập Trung tâm Auto-ID (bây giờ được gọi là phòng thí nghiệm Auto-ID) tại MIT.
Ashton, người từng là nhà tiếp thị tại P&G, muốn giải quyết một thách thức mà anh từng thấy trước đây như báo cáo của Wired : kệ trống cho một sản phẩm cụ thể. Khi các kệ hàng trống rỗng, rõ ràng là không ai có thể mua những thứ được cho là ở đó. Đó là một vấn đề điển hình của hậu cần và chuỗi cung ứng. Ashton đã tìm ra giải pháp trong các thẻ RFID, chúng vẫn còn quá đắt để có thể đưa chúng lên mỗi sản phẩm. Khi Trung tâm ID tự động MIT được thành lập, được tài trợ bởi các thương hiệu bán lẻ lớn trên toàn cầu, những người hiểu rõ thách thức và lợi ích rõ ràng của một giải pháp, ông đã được P&G ‘cho vay’ và trở thành giám đốc điều hành tại Trung tâm đó như Wired giải thích.
Phần còn lại là một hệ thống tiêu chuẩn, giải quyết các thách thức thu nhỏ, hạ giá thẻ RFID và… lịch sử.
IoT là gì? Các định nghĩa về Internet of Things
Internet of Things là phạm vi kết nối của các thiết bị vật lý với Internet và các mạng khác thông qua các địa chỉ IP có thể nhận dạng duy nhất, theo đó dữ liệu được thu thập và giao tiếp thông qua các cảm biến, thiết bị điện tử và phần mềm nhúng.
Các thiết bị vật lý hoặc được thiết kế cho Internet of Things hoặc là tài sản, bao gồm cả sinh vật sống, được trang bị thiết bị điện tử cảm biến và truyền dữ liệu. Ngoài kích thước điểm cuối này với các thiết bị, cảm biến, bộ truyền động và hệ thống truyền thông, Internet of Things còn được sử dụng để mô tả những gì được thực hiện hiệu quả với dữ liệu thu được từ những thứ được kết nối.
Internet of Things mô tả một loạt các ứng dụng, giao thức, tiêu chuẩn, kiến trúc và công nghệ thu thập và phân tích dữ liệu theo đó các thiết bị và vật dụng (thiết bị, quần áo, động vật,….)được trang bị các cảm biến, phần mềm được thiết kế đặc biệt và / hoặc các hệ thống kỹ thuật số và điện tử khác, được kết nối với Internet và / hoặc các mạng khác thông qua một địa chỉ IP hoặc URI duy nhất, với mục đích xã hội, công nghiệp, kinh doanh và / hoặc con người . Như bạn có thể đọc bên dưới, dữ liệu và cách chúng được thu thập, phân tích và kết hợp thành chuỗi giá trị thông tin và lợi ích là chìa khóa trong đó. Trên thực tế, giá trị thực sự của Internet of Things nằm ở cách nó cho phép tận dụng các nguồn và loại dữ liệu hoàn toàn mới cho các mô hình kinh doanh hoàn toàn mới, thông tin chi tiết, hình thức tham gia, cách sống và cải thiện xã hội.
Internet of Things là một thuật ngữ chung và, như đã đề cập, thường có sự phân biệt giữa Internet of Things dành cho người tiêu dùng (CIoT) và Internet of Things công nghiệp (IIoT) . Chúng tôi đề cập đến cả hai bên dưới vì chúng vẫn thường được sử dụng. Tuy nhiên, CIoT và IIoT cũng bao gồm nhiều trường hợp sử dụng và ứng dụng và do đó cũng là các điều khoản chung. Hơn nữa, có sự chồng chéo giữa cả hai.
Internet of Things là một phần của Internet of Everything – mọi thứ được kết nối trong một mạng phân tán lớn
Chúng ta nhìn thấy Internet of Things nhiều hơn từ góc độ Internet of Everything , một lần nữa là một phần của bối cảnh rộng lớn hơn. Điều này có nghĩa là gì được giải thích thêm bên dưới. Internet of Things không phải là một thứ. Dữ liệu được thu thập, gửi, xử lý hoặc gửi đến thiết bị, trong hầu hết các trường hợp, truyền qua Internet, đường truyền cố định, qua hệ sinh thái đám mây hoặc thông qua công nghệ kết nối không dây (được điều chỉnh) được phát triển cho các ứng dụng cụ thể của IoT (ví dụ: công nghệ không dây cho IIoT ).
Kết nối các lĩnh vực kỹ thuật số, vật lý và con người thông qua mạng, các quy trình và dữ liệu được kết nối, biến thành kiến thức và hành động, là một khía cạnh thiết yếu trong phương trình này. Trong những năm gần đây, trọng tâm trong Internet of Things đã chuyển từ khía cạnh thuần túy là kết nối các thiết bị và thu thập dữ liệu sang sự kết nối giữa các thiết bị, dữ liệu, mục tiêu kinh doanh, con người và quy trình, chắc chắn là trong IIoT.
Các yếu tố phổ biến trong IoT
Hầu hết các định nghĩa IoT đều có một số điểm chung. Dưới đây là những điểm chung của chúng:
Kết nối Internet of Things
Tất cả các định nghĩa IoT đều bao gồm khía cạnh kết nối và mạng: mạng lưới của mọi thứ, thiết bị, cảm biến, đối tượng và / hoặc tài sản, tùy thuộc vào nguồn.
Rõ ràng là một khía cạnh của mạng và tính kết nối, thậm chí chúng ta có thể nói là siêu kết nối, cần phải hiện diện trong bất kỳ định nghĩa IoT phù hợp nào. Có một số kết nối IoT và các giao thức và tiêu chuẩn mạng, cả không dây và cố định. Trong hầu hết các dự án IoT ngoài đời thực, đó là sự kết hợp. Kết nối xảy ra ở tất cả các cấp độ: ở phạm vi rất gần (ví dụ: giữa các thiết bị) , ở xa hơn (ví dụ: giữa các thiết bị và đám mây) hoặc ở khoảng cách rất lớn. Các tiêu chuẩn kết nối cũng khác nhau, tùy thuộc vào nguồn điện cần thiết và khối lượng dữ liệu IoT được truyền đi, làm tăng thêm nhiều tiêu chuẩn và giải pháp. Kết nối theo nghĩa các thiết bị được kết nối là nơi bắt đầu, dữ liệu được kết nối là nơi giá trị bắt đầu.
Những thứ trong Internet of Things
Nội dung hỗ trợ IoT, thiết bị, đối tượng vật lý, cảm biến, bất kỳ thứ gì được kết nối với thế giới vật chất, thiết bị, điểm cuối, danh sách vẫn tiếp tục.
Tất cả chúng đều là những thuật ngữ để mô tả những gì là một phần thiết yếu của mạng lưới vạn vật. Một số thêm các từ như thông minh hoặc thông minh vào các thiết bị. Giả sử rằng chúng chứa công nghệ giúp chúng có thêm khả năng ‘làm gì đó’: đo nhiệt độ hoặc độ ẩm, thu thập dữ liệu vị trí, cảm nhận chuyển động hoặc ghi lại bất kỳ hình thức hành động và bối cảnh nào khác có thể được ghi lại và chuyển thành dữ liệu. Các thiết bị IoT cần được quản lý. Đó là nơi quản lý thiết bị IoT : nó cho phép tích hợp, cấu hình và quản lý tổng thể các thiết bị IoT. Quản lý thiết bị IoT có thể đơn giản (ví dụ: trong các ứng dụng tiêu dùng)và được thực hiện bằng cách sử dụng nền tảng đám mây với các tính năng quản lý thiết bị IoT hoặc các giải pháp của nhà cung cấp độc quyền. Nó cũng có thể phức tạp. Khi các nền tảng IoT trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, quản lý thiết bị IoT thường được xử lý ở cấp độ này vì quản lý thiết bị là một trong những thành phần quan trọng của nền tảng như vậy. Các thành phần khác của nền tảng IoT bao gồm quản lý dữ liệu IoT, kiểm soát truy cập và hỗ trợ ứng dụng (phát triển) . Tìm hiểu thêm về tổng quan nền tảng MachNation IoT này. Ngoài ra, khi điện toán biên trở nên quan trọng hơn, hãy xem xét quản lý thiết bị IoT ở biên như được giải thích trong thẻ điểm cạnh MachNation IoT .
Định nghĩa Internet of Things bằng 7 đặc điểm
Internet vạn vật và dữ liệu
Đây là một phần của khái niệm thông minh nhưng nó cũng đưa chúng ta đến gần hơn với bản chất.
Bạn có thể định nghĩa Internet of Things bằng cách đơn giản mô tả tất cả các đặc điểm (“nó là gì”) nhưng bạn cũng cần xem xét mục đích của nó (“lý do tại sao”) . Dữ liệu là một phần quan trọng của phương trình này, mặc dù chỉ là bước đầu tiên vì dữ liệu như vậy là không đủ. Tuy nhiên, không có Internet of Things mà không có dữ liệu (lớn).
Giao tiếp trong Internet of Things
Dữ liệu như vậy có thể không phải là không có giá trị nhưng chắc chắn là không có ý nghĩa trừ khi nó được sử dụng cho một mục đích và nó được biến thành ý nghĩa, hiểu biết sâu sắc, trí thông minh và hành động.
Có thể bạn đã nghe về mô hình DIKW cũ tốt (từ dữ liệu đến thông tin đến kiến thức đến trí tuệ – và hành động) ? Vâng, dữ liệu được thu thập và cảm nhận bởi các thiết bị IoT cần phải được giao tiếp để thậm chí bắt đầu biến nó thành thông tin có thể hành động, chưa nói đến kiến thức, hiểu biết sâu sắc, trí tuệ hoặc hành động.
Internet of Things, Trí thông minh và hành động
Chúng tôi chỉ đề cập đến khía cạnh này. Tuy nhiên, trong hầu hết các định nghĩa, chúng ta thấy rằng trí thông minh chỉ được quy cho (các) mạng và / hoặc các thiết bị.
Ví dụ, mặc dù chúng ta chắc chắn cần ‘công nghệ mạng thông minh’ trong nhiều trường hợp và trong khi các thiết bị được kết nối có khả năng hoạt động, thì trí tuệ và hành động thực sự nằm trong việc phân tích dữ liệu và sử dụng dữ liệu này một cách thông minh để giải quyết một thách thức, tạo ra lợi ích cạnh tranh, tự động hóa quy trình, cải tiến điều gì đó, bất kỳ hành động nào có thể mà giải pháp IoT của chúng tôi muốn giải quyết. Cũng như không có Internet of Things mà không có dữ liệu (lớn), không có triển khai Internet of Things hữu ích mà không hiểu ý nghĩa, trí thông minh, phân tích dữ liệu (lớn), nhận thức và AI, v.v.
Tự động hóa
Luôn có một mức độ tự động hóa, bất kể phạm vi của dự án hay loại ứng dụng Internet of Things. Trên thực tế, hầu hết các ứng dụng IoT về cơ bản đều là về tự động hóa. Và điều đó thường đi kèm với chi phí và lợi ích. Tự động hóa công nghiệp, tự động hóa quy trình kinh doanh hoặc tự động cập nhật phần mềm: tất cả đều đóng một vai trò nào đó, tùy thuộc vào bối cảnh. Bạn biết câu nói: phần mềm ăn cả thế giới. Chà, nó cũng hỗ trợ xe Tesla và sắp tới là xe tự hành, theo đó bảo trì, nâng cấp, v.v. tất cả đều liên quan đến tự động hóa và phần mềm, được cung cấp bởi dữ liệu được cung cấp bởi các cảm biến và thiết bị được kết nối.
Hệ sinh thái
Ý nghĩa và siêu kết nối là những gì chúng ta bỏ lỡ trong nhiều câu trả lời cho các câu hỏi liên quan đến Internet of Things là gì.
Chúng tôi quá mô tả và chỉ tập trung vào các công nghệ và không nhìn vào mục đích và hành động đủ thông minh. Rõ ràng là chúng ta có thể nói rằng đây không phải là về Internet of Things mà là về Internet of Everything hoặc hệ sinh thái Internet of Things hoặc một cái gì đó khác nhưng đối với chúng tôi, đó là chìa khóa để không nhầm lẫn Internet of Things với một loạt các hoạt động thể chất. chẳng hạn như các thiết bị được kết nối với một số ứng dụng. Bởi vì, mặc dù đây là những loại ứng dụng mà hầu hết mọi người đều nói đến, chúng chắc chắn là nơi chứa phần lớn các trường hợp sử dụng Internet of Things và chúng khác xa ý nghĩa ban đầu của Internet of Things.
Internet vạn vật liên tục
Mặc dù các yếu tố được đề cập ở trên trở lại trong tất cả các định nghĩa về Internet of Things, nhưng chúng tôi bỏ lỡ một số yếu tố cần thiết trong các quan điểm đang phát triển liên quan đến Internet of Things khi nó chuyển từ thiết bị và dữ liệu sang kết quả và trí thông minh có thể hành động, và cuối cùng là một siêu kết nối thế giới chuyển đổi kỹ thuật số (DX) và kinh doanh.
Các khía cạnh của siêu kết nối và tích hợp thường thiếu. Trong bối cảnh thực tế, theo đó các thiết bị, con người, quy trình và thông tin được kết nối với nhau hơn bao giờ hết; định nghĩa và cách tiếp cận Internet of Things chỉ cần đề cập đến những khía cạnh này vì Internet of Things là một phần của cái gì đó rộng hơn và thiên về dữ liệu, ý nghĩa và mục đích hơn là về các đối tượng. Yếu tố quan trọng của tính siêu kết nối trong phạm vi Internet of Things là đôi khi đề cập đến việc kết nối liên tục giữa môi trường kỹ thuật số và vật lý, cùng với môi trường con người, các quy trình và dữ liệu như chất kết dính, yếu tố thúc đẩy và điều kiện để tạo ra giá trị khi được sử dụng đúng cách cho các mục đích kết nối .
Sau đó, cũng có khả năng tạo ra các hệ sinh thái mới trong đó việc sử dụng thiết bị được kết nối của các nhóm người có thể dẫn đến các ứng dụng và hình thức mới của hệ sinh thái cộng đồng. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng và chúng tôi đã đề cập đến điều này thường xuyên trước đây: không có Internet of Things mà không có bảo mật.
Hầu như mọi người đều đồng ý rằng trong thập kỷ tới, vào năm 2020 và hơn thế nữa, chúng ta sẽ ngày càng ít nói về Internet of Things.
Internet of Things là một từ nhầm lẫn theo hai nghĩa.
Đầu tiên, mọi thứ không mô tả bản chất của ý nghĩa thực sự của nó và khiến nó có vẻ giống như một thứ bao gồm những thứ được kết nối với nhau. Tuy nhiên, như đã nói nó không phải là một thứ như nó thường được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Ngoài việc bao trùm một hệ sinh thái được kết nối rộng lớn với vô số công nghệ, nền tảng và các thành phần khác như vậy, Internet of Things còn phù hợp với bối cảnh công nghệ và tổ chức, theo đó trí tuệ hành động là cốt lõi của các cơ hội tạo ra giá trị cho con người và doanh nghiệp. Internet of Things không có mục đích cũng như không có nghĩa là tồn tại nếu không có tất cả các khía cạnh này.
Thứ hai, sau nhiều năm tầm nhìn trong tương lai xung quanh các khái niệm và ý tưởng rất cũ như tủ lạnh được kết nối , niềm đam mê hiện tại với các khả năng nảy sinh do kết nối ‘mọi thứ’, khía cạnh ‘mọi thứ được kết nối’ sẽ chuyển sang phía sau và IoT sẽ cũng giống như chúng ta nhìn vào Internet ngày nay: một hiện tượng hiển nhiên của sự gia tăng kết nối giống như điện. Những gì đằng sau nó, các cảm biến, thiết bị, giao thức, các khả năng thiết yếu, sẽ không quan trọng, ngoại trừ những người cần hiện thực hóa các dự án Internet of Things trong cuộc sống thực và quan sát khía cạnh công nghệ trong khuôn khổ quy định, ý nghĩa và bảo mật .
Câu hỏi và sự phát triển ngày càng tăng sẽ không phải là về Internet of Things mà là về bức tranh nền kinh tế chuyển đổi kỹ thuật số rộng lớn hơn với các kết quả và sự tích hợp trong tâm trí và thực tế là các bộ công nghệ chồng chéo đang được đưa ra.
IoT là gì? Một câu trả lời trực quan
Để kết thúc phần này về định nghĩa và mô tả, đây là một minh họa tốt về thực tế rộng lớn của Internet of Things – và đồng thời là minh họa cho ý nghĩa của nó.
Phần trên cùng bên phải hiển thị rõ ràng Internet of Things : các đối tượng thông minh với địa chỉ IP có thể cảm nhận (tùy thuộc vào trường hợp sử dụng, thu thập dữ liệu về các thông số khác nhau như vị trí, nhiệt độ, độ ẩm và hàng chục khả năng khác). Dữ liệu này được gửi để xử lý hoặc phân tích tại nguồn.
Phần trên bên trái là ‘Internet of People’. Suy nghĩ về mọi thứ bạn sử dụng để kết nối với Internet, chẳng hạn như điện thoại thông minh của bạn. Chính trong sự gặp gỡ của lĩnh vực này và Internet of Things mà hầu hết các ứng dụng tiêu dùng Internet of Things ngày nay đã ra đời. Một sốứng dụngđược gọi là Consumer IoT (CIoT) chẳng hạn như thiết bị đeo được không thể tồn tại mà không có điện thoại thông minh. Hơn nữa, đối với một số hoạt động kiểm soát và giám sát, bạn sẽ cần một số loại thiết bị như máy tính bảng, chẳng hạn trong bối cảnh nhà thông minh.
Hình cầu ở dưới cùng của hình ảnh bao gồm tất cả các đối tượng được kết nối không có địa chỉ IP và không thuộc về Internet of Things. Chúng tồn tại từ rất lâu, chủ yếu trong lĩnh vực Internet công nghiệp và chúng ta thấy chúng chuyển sang Internet vạn vật công nghiệp (IIoT). Thay thế các thiết bị như vậy hoặc gắn thẻ chúng để chúng trở nên hỗ trợ IoT là một phần của những gì xảy ra trong IIoT.
Định nghĩa của Internet of Things: một thực tế đang phát triển
Định nghĩa về Internet of Things đang được phát triển theo một số cách:
Các cơ quan trong ngành đang cập nhật các định nghĩa và mô tả về Internet of Things trong một lĩnh vực vẫn còn thiếu tiêu chuẩn hóa.
Thị trường đang phát triển và thay đổi quan điểm và định nghĩa . Cho dù nó liên quan đến các nhà phân tích hay các công ty, vốn rất tích cực trong không gian IoT: nhiều người trong số họ đã phát minh ra các thuật ngữ của riêng họ.
Có một sự thay đổi trong cách chúng ta nghĩ về Internet of Things . Bạn có thể xác định mọi thứ dựa trên những gì chúng là gì và chúng không phải là gì. Bạn cũng có thể xác định chúng bằng cách tập trung vào các đặc điểm của chúng. Và, theo như chúng tôi quan tâm, câu hỏi quan trọng nhất cần trả lời trong định nghĩa: tại sao và làm thế nào chúng ta sử dụng “cái gì đó”?
Chúng tôi ít xem xét ‘những thứ’ và công nghệ của Internet of Things mà nhiều hơn vào thực tế và bối cảnh rộng lớn hơn mà Internet of Things phù hợp. Nhiều trường hợp sử dụng và sự tập trung vào kết quả (dịch vụ) trở nên cần thiết hơn.
Mặc dù Internet of Things – và chúng ta cân nhắc lời nói của mình – như một ‘thực tế’ có những lợi ích và hậu quả mà nhiều người chưa thể nắm bắt, chúng ta cần thay đổi câu chuyện và nhìn IoT từ góc độ tổng thể của:
Cách nó được kết nối với con người, quy trình, dữ liệu, kinh doanh, đổi mới, ý nghĩa, v.v.
Các kết quả và mục tiêu từ quan điểm tích hợp, liên quan đến hệ sinh thái giá trị, công nghệ liên quan và hệ sinh thái nền tảng và kinh doanh.
Định nghĩa IoT: IoT là M2M được đổi thương hiệu và đổi mới
Vào mùa hè năm 2017, chúng tôi đã có một cuộc phỏng vấn với Nicolas Windpassinger , người chuẩn bị phát hành một cuốn sách trên Internet of Things, có tựa đề ‘ Số hóa hay là chết ‘. Trong cuốn sách IoT của mình, Windpassinger xem xét các công nghệ, chiến lược và tác động chuyển đổi của Internet of Things.
Định nghĩa về Internet of Things mà ông đưa ra trong ‘Số hóa hay Chết’ như sau: Internet of Things là ” cơ sở hạ tầng toàn cầu cho xã hội thông tin, cho phép các dịch vụ tiên tiến bằng cách kết nối những thứ (vật lý và ảo) với nhau dựa trên thông tin tương tác hiện có và đang phát triển công nghệ truyền thông “ . Nếu bạn đã học hoặc đọc về IoT, bạn có thể nhận ra định nghĩa đó. Nó thực sự là định nghĩa của Internet of Things như nó đã được xuất bản trong Khuyến nghị ITU-T Y.2060, có từ năm 2012.
Đó là một thời gian sau khi Kevin Ashton đặt ra thuật ngữ Internet of Things (1999) nhưng cũng giống như nguồn gốc của bài báo năm 1999 của Ashton về việc hình thành Internet of Things của anh ấy sẽ được nhìn thấy trong bối cảnh đã đề cập trước đó của RFID, cảm biến và máy-to- thông tin liên lạc máy móc, v.v. đã tồn tại trong kinh doanh từ rất lâu, Nicolas viết Internet of Things cũng thường được gọi là máy-với-máy, máy-với-cơ sở hạ tầng, Internet of Intelligent Things và Smart “Một cái gì đó”. Đối với Nicolas, IoT là machine-to-machine hoặc M2M, nhưng sau đó được đổi thương hiệu và đổi mới. Nói cách khác: IoT có một lịch sử và biết nó sẽ giúp hiểu rõ hơn về IoT và nhiều khía cạnh và thực tế là các định nghĩa của nó. Tuy nhiên, nhiều hơn về điều đó sau đó.
Hướng tới một định nghĩa IoT toàn cầu
Internet of Things phù hợp – và yêu cầu – bối cảnh tích hợp, siêu kết nối, chuyển đổi kỹ thuật số và dữ liệu và thông tin có thể hành động chắc chắn nên nó còn hơn cả ‘thứ’ kết nối lớn mà chúng ta nói về nó.
Tuy nhiên, như đã đề cập, điều quan trọng là phải nói cùng một ngôn ngữ. Đó cũng là suy nghĩ của mọi người tại IEEE. Hiệp hội này (IEEE là viết tắt của Viện Kỹ sư Điện và Điện tử), được thành lập vào năm 1963, được biết đến với công việc toàn diện liên quan đến các tiêu chuẩn trong công nghệ.
Thông qua một trang Internet of Things đặc biệt trên trang web của IEEE, nơi các thành viên có thể tham gia đóng góp vào, trích dẫn, “định nghĩa luôn thay đổi về IoT”, bạn có thể tải xuống phiên bản mới nhất (PDF, không cần đăng ký) của “Hướng tới định nghĩa Internet of Things ”, đã được sửa đổi và xuất bản vào ngày 27 tháng 5 năm 2015.
Nó dài 86 (!) Trang. Tất nhiên, nó không chỉ bao hàm một cách chặt chẽ một định nghĩa IoT, nó cung cấp một cái nhìn tổng quan rất lớn về những cân nhắc, diễn biến, thông số kỹ thuật và các khía cạnh khác nhau liên quan đến hệ sinh thái Internet of Things cũng như các khía cạnh công nghệ và xã hội của Internet of Things như được mô tả bên dưới. Nó thậm chí còn đi sâu vào các câu hỏi như ‘những thứ’ là gì trong chế độ xem hệ sinh thái Internet of Things.
Sự phát triển theo cấp số nhân của Internet of Things
Như chúng ta đã thấy trước đó, Internet of Things vẫn còn một chặng đường dài phía trước và sự phát triển của các thiết bị được kết nối hoặc “những thứ thông minh” sẽ tiếp tục tăng theo cấp số nhân trong những năm tới, khi nhiều thách thức được giải quyết.
Theo nghĩa đó, thật an toàn khi nói rằng, mặc dù thực tế là chúng ta đã nói về Internet of Things trong một thời gian dài và việc IoT trong nhiều ngành đã trở thành hiện thực, chúng ta vẫn đang ở trong những năm đầu. Mặc dù người ta mong đợi rằng, như một thuật ngữ và khái niệm, Internet of Things sẽ biến mất và chỉ trở thành một phần của một điều bình thường mới, chúng ta còn rất xa mới đạt được điều đó. Tuy nhiên, lưu ý rằng trong bối cảnh kinh doanh, tốt nhất bạn nên tập trung vào các mục tiêu và trường hợp sử dụng khi cố gắng để các dự án được chấp nhận và thực hiện hơn là nói về IoT.
Với sự tăng trưởng theo cấp số nhân, được kích hoạt bởi cái mà Gartner gọi là “mối quan hệ của các lực lượng”, sẽ dẫn đến sự tăng trưởng trong nhiều lĩnh vực khác như lưu lượng truy cập, lưu trữ, khả năng xử lý, khối lượng dữ liệu, khả năng mạng.
Internet of Things tồn tại trong nhiều ngành công nghiệp, ứng dụng và bối cảnh. Một số dự án vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm trong khi những dự án khác tạo thành xương sống của các quy trình, hoạt động và đổi mới quan trọng. Nói cách khác: Internet of Things chắc chắn có ở đây nhưng mức độ nó đang thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và tiến hành kinh doanh phụ thuộc vào bối cảnh.
Dự đoán về số lượng thiết bị được kết nối – một bức tranh đang thay đổi
Các dự đoán chính xác liên quan đến quy mô và sự phát triển của toàn cảnh Internet of Things có xu hướng tập trung vào số lượng thiết bị, thiết bị và ‘những thứ khác’ được kết nối và sự tăng trưởng đáng kinh ngạc của khối lượng thiết bị IoT hỗ trợ IP này, cũng như dữ liệu mà họ tạo ra, với những con số đáng kinh ngạc trong nhiều năm tới.
Nó làm cho nó trông như thể Internet of Things vẫn chưa có. Mặc dù vậy, đừng nhầm lẫn: nó đã lớn hơn nhiều người tin tưởng và được sử dụng trong nhiều ứng dụng hơn những ứng dụng thường được đề cập trên các phương tiện truyền thông chính thống.
Đồng thời, đúng là sự gia tăng của các thiết bị được kết nối đang tăng nhanh và đáng kinh ngạc. Khi chúng tôi viết ấn bản đầu tiên của hướng dẫn về Internet of Things này, khoảng mỗi giờ một triệu kết nối mới đã được thực hiện và có khoảng 5 đến 6 tỷ mục khác nhau được kết nối với Internet. Đến năm 2020, Cisco dự kiến sẽ có 20 tỷ thiết bị trong Internet of Things. Các ước tính cho năm 2030 đã lên đến con số khổng lồ 50 tỷ thiết bị và một số dự đoán thậm chí còn lạc quan hơn, cho biết rằng vào năm 2025 sẽ có tới 100 tỷ thiết bị.
Sự thật là chúng ta sẽ phải chờ xem và vào thời điểm chúng tôi viết về những dự đoán gần đây, những dự đoán mới đã được công bố. Hơn nữa, nghiên cứu khác nhau có nghĩa là các con số khác nhau và điều quan trọng là phải phân biệt giữa thiết bị IoT, điểm cuối IoT và thiết bị được kết nối mặc dù thường thiết bị IoT và thiết bị được kết nối thường được sử dụng thay thế cho nhau.
Khi chúng tôi viết bài tổng quan này lần đầu tiên, Gartner ước tính rằng vào năm 2020, chúng ta sẽ sống trong một thế giới với hơn 26 tỷ thiết bị được kết nối. Như hình ảnh dưới đây cho thấy Cisco hồi đó đã dự đoán rằng 37 tỷ thứ thông minh sẽ được kết nối với Internet vào năm 2020 (trước đó công ty đã nói về 50 tỷ) và một số thậm chí đã vượt qua 200 tỷ. Vào cuối năm 2016, dự báo dao động trong khoảng từ 20 đến 30 tỷ thiết bị được kết nối (hỗ trợ IoT) vào năm 2020.
Theo Juniper Research (dữ liệu cuối năm 2016), số lượng thiết bị IoT, cảm biến và thiết bị truyền động được kết nối sẽ đạt hơn 46 tỷ vào năm 2021.
Nhiều nguồn và dự đoán khác nhau trong ngữ cảnh
Bất kể con số chính xác là bao nhiêu, có một điều rõ ràng là có rất nhiều thiết bị vẫn có thể được kết nối và thật an toàn khi cho rằng chúng ta có thể sẽ đạt được số lượng thiết bị được kết nối thấp hơn (20-30 tỷ) vào năm 2020.
Sự đa dạng của các nguồn và tốc độ phát hành dữ liệu về số lượng thiết bị được kết nối dự kiến là quá lớn nên chúng tôi lập kế hoạch một phần với các dự báo từ một số nguồn, được cập nhật độc đáo để bạn có thể luôn cập nhật.
Có một số lý do tại sao những dự đoán này lại khác nhau rất nhiều. Trong số đó chắc chắn có nhiều sự không chắc chắn và thách thức liên quan đến Internet of Things được thúc đẩy bởi các sự kiện có tác động liên quan đến bảo mật và quyền riêng tư của những người khác. Và có một thực tế là Internet of Things rõ ràng cũng bị thổi phồng bởi những người quan tâm đến việc đó (chẳng hạn như các công ty bán giải pháp Internet of Things). Điều này không có nghĩa là Internet of Things là một sự cường điệu như vậy (nó đã xuất hiện vào đầu Thiên niên kỷ này). Tuy nhiên, thực tế, dữ liệu và thậm chí cả các định nghĩa liên quan đến Internet of Things là quá rộng lớn đến mức tất cả các dự đoán thực sự chỉ là những nỗ lực, thường phù hợp với một viễn cảnh ảo tưởng.
Tác động, dữ liệu và kết quả trước thiết bị
Hơn nữa, vấn đề không phải là sự phát triển của các thiết bị được kết nối mà quan trọng là cách chúng được sử dụng trong bối cảnh rộng lớn hơn của Internet of Things, nơi giao thoa giữa các thiết bị được kết nối và hỗ trợ IP, dữ liệu lớn (phân tích), con người, quy trình và các dự án có mục đích ảnh hưởng đến một số ngành công nghiệp.
Ngoài ra, khía cạnh dữ liệu cũng rất quan trọng (một lần nữa với các dự báo hấp dẫn) và cách tất cả dữ liệu (lớn) này được phân tích, tận dụng và biến thành hành động hoặc thông minh có thể hành động để tạo ra trải nghiệm khách hàng nâng cao , tăng năng suất, quy trình tốt hơn, cải tiến xã hội, mô hình sáng tạo và tất cả các lợi ích và kết quả có thể có khác. Tác động của IoT từ khối lượng dữ liệu tuyệt đối và quan điểm vũ trụ kỹ thuật số là đáng kinh ngạc.
Cơn đại dữ liệu IoT cũng có tác động đến cơ sở hạ tầng CNTT . Mặc dù một số công nghệ gần đây hơn (ví dụ như điện toán biên và IoT) , các thiết bị và phần mềm (ví dụ như cổng IoT đang tiến tới cạnh và các thế hệ nền tảng IoT mới nhất, cụ thể là nền tảng IoT ) giúp giải quyết thách thức này, chúng chắc chắn là chưa đủ.
Mong đợi trí thông minh nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn và sức mạnh tính toán ngày càng đóng vai trò ngày càng tăng, ở đầu và trên khắp các dự án đầu cuối, vì chúng ta thực sự chỉ mới bắt đầu cơn đại hồng thủy dữ liệu IoT đó. Và đó không phải là tất cả: như trường hợp của dữ liệu tổng thể, hầu hết dữ liệu IoT được thu thập không được sử dụng hoặc khai thác hết và thường ngồi và chờ đợi trường hợp sử dụng phù hợp mà chúng có thể phù hợp. Điều này sẽ làm tăng lượng dữ liệu IoT hơn nữa.
Theo nghiên cứu năm 2017 từ 451 Research, cơn bão dữ liệu IoT hiện nay chủ yếu dẫn đến việc tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng lưu trữ, thiết bị biên / chu vi mạng và cơ sở hạ tầng máy chủ. Tuy nhiên, trong khi các công ty đang xử lý khối lượng công việc IoT hiện nay để cải thiện bảo mật, xử lý các trình kích hoạt hành động hoạt động theo thời gian thực và giảm các yêu cầu lưu trữ và vận chuyển dữ liệu IoT như công ty nhận thấy, điều này sẽ thay đổi nhanh chóng.
Lý do cho sự phát triển theo cấp số nhân của Internet of Things
Vì vậy, tại sao sự phát triển theo cấp số nhân này của Internet of Things và, phải thừa nhận rằng, sự tăng trưởng theo cấp số nhân của sự chú ý dành cho nó, đôi khi cảm thấy giống như một sự cường điệu?
Trước hết, Internet of Things ngày nay đã được thổi phồng một cách hiệu quả (nhưng đồng thời cũng rất thực tế). Chu kỳ Hype của Gartner đối với các công nghệ mới nổi cho thấy rằng Internet of Things đang ở đỉnh cao của những kỳ vọng bị thổi phồng (trong khi NFC đang đạt đến ngưỡng của sự khai sáng).
Có rất nhiều lý do giải thích cho sự chú ý ngày càng tăng của Internet of Things. Mặc dù bạn thường sẽ đọc về việc giảm chi phí lưu trữ, xử lý và vật liệu hoặc nền tảng thứ ba với đám mây, dữ liệu lớn, công nghệ / thiết bị thông minh (di động), v.v. nhưng chắc chắn cũng có khía cạnh xã hội / con người với lượng người tiêu dùng mạnh mẽ thành phần.
Các rào cản và động lực thị trường IoT – nguồn Số hóa hoặc Chết
Một yếu tố cũng đã góp phần không nhỏ vào sự trỗi dậy của Internet vạn vật, chắc chắn là trong bối cảnh Internet vạn vật công nghiệp và các tòa nhà thông minh, có thể kể đến một vài yếu tố, đó là sự hội tụ của CNTT và OT (Công nghệ vận hành), nhờ đó các cảm biến, thiết bị truyền động, v.v. loại bỏ các rào cản giữa các thế giới bị ngắt kết nối truyền thống này.
Internet of Things: nhiều thuật ngữ và nhiều hương vị
Khi các công ty ngày càng bắt đầu đầu tư vào các công nghệ Internet of Things và triển khai Internet of Things có thể mở rộng thay vì chỉ là các dự án thí điểm, thì điều đó nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng Internet of Things là một thuật ngữ bao hàm các thực tế hoàn toàn khác nhau mà có rất ít điểm chung.
Phần lớn sự cường điệu của Internet of Things tập trung vào các thiết bị hướng đến người tiêu dùng như thiết bị đeo được hoặc thiết bị gia dụng thông minh. Tuy nhiên, chúng tôi không thể lặp lại đủ, có sự khác biệt rất lớn giữa công cụ theo dõi thể dục cá nhân và việc sử dụng IoT trong các thị trường công nghiệp như sản xuất nơi IoT chiếm vị trí trung tâm trong tầm nhìn của Công nghiệp 4.0 (ví dụ như bạn có thể nghĩ về Các thiết bị được kết nối IoT hoặc hỗ trợ IoT như rô bốt công nghiệp lớn hoặc hệ thống hậu cần IoT).
Đó là lý do tại sao bắt đầu có sự phân biệt giữa Internet vạn vật công nghiệp và Internet vạn vật tiêu dùng. Tuy nhiên, ở đây cũng có những chồng chéo và cuối cùng vẫn gặp khó khăn khi bạn bắt đầu phân đoạn thực tế. Một loạt các thuật ngữ mới đã được phát minh để giải thích các hình thức sử dụng Internet of Things hiện có và mới nổi khác nhau: Internet of Robotic Things, Internet of Medical Things, danh sách này vẫn tiếp tục.
Đồng thời, một số nhà cung cấp giải pháp Internet of Things bắt đầu đưa ra các điều khoản thay thế. Điều được biết đến nhiều nhất là Internet of Everything của Cisco, nhằm mục đích nhấn mạnh vai trò của con người, dữ liệu, quy trình, v.v. Trong khi tất cả những nỗ lực này (và nhiều hơn nữa) đã cố gắng làm cho Internet of Things trở nên hữu hình hơn nhưng cuối cùng chúng ta thấy rằng kể từ năm 2016 -2017 hầu hết mọi người và các công ty (bao gồm cả Cisco) chỉ đơn giản là bắt đầu nói về IoT một lần nữa. Việc sử dụng thuật ngữ Internet vạn vật công nghiệp (hoặc Internet công nghiệp) cũng đang tạo ra bối cảnh rộng lớn hơn của Công nghiệp 4.0, trong đó Internet vạn vật là một phần của thực tế mà chúng tôi đã mô tả.
Một cái nhìn sâu hơn về một số ‘tập con’ Internet of Things chính này
Internet vạn vật công nghiệp (IIoT)
Internet of Things, Internet of Everything, Consumer Internet of Things, rất nhiều thuật ngữ trở nên khó hiểu.
Giá trị chính và các ứng dụng được tìm thấy trong cái gọi là Công nghiệp Internet of Things hoặc IIoT. Thành thật mà nói, một trong những lý do chính khiến chúng ta bắt đầu nói về Internet vạn vật công nghiệp là để phân biệt nó với quan điểm phổ biến hơn về Internet vạn vật vì nó ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong những năm gần đây: đó là Internet vạn vật tiêu dùng hoặc các ứng dụng điện tử tiêu dùng như thiết bị đeo được trong ngữ cảnh được kết nối hoặc các ứng dụng nhà thông minh.
Định nghĩa Internet of Things công nghiệp
Công nghiệp Internet of Things được Hiệp hội Internet công nghiệp định nghĩa là ‘máy móc, máy tính và con người cho phép hoạt động công nghiệp thông minh bằng cách sử dụng phân tích dữ liệu nâng cao cho kết quả kinh doanh chuyển đổi’ như bạn cũng có thể thấy trong đồ họa thông tin bên dưới.
Những ngành công nghiệp nào được bảo hiểm? Một số người chủ yếu nhìn vào các ngành ‘nặng’ như sản xuất, dầu khí, giao thông vận tải. Những người khác cũng thêm các ứng dụng thành phố thông minh hoặc nông nghiệp thông minh ‘ít nặng hơn’ vào tài khoản. Đôi khi có một đường nét hơi mỏng vì tất nhiên bạn cũng có thể có các ứng dụng rất đơn giản trong các thành phố thông minh.
Điều quan trọng trong Internet vạn vật công nghiệp hay IIoT là sự tích hợp đã đề cập (của thế giới) CNTT (công nghệ thông tin) và OT (công nghệ vận hành).
Hiện tại, IIoT là phân đoạn quan trọng nhất trong Internet of Things, chẳng hạn như các ứng dụng dành cho người tiêu dùng.
Các trường hợp sử dụng Internet of Things công nghiệp, lợi ích và thách thức
Internet vạn vật công nghiệp có liên quan đến Công nghiệp 4.0: tất cả các ứng dụng Internet vạn vật trong Công nghiệp 4.0 đều là dạng IIoT nhưng không phải tất cả các trường hợp sử dụng IIoT đều liên quan đến các ngành được phân loại là Công nghiệp 4.0.
Các trường hợp sử dụng điển hình của Internet vạn vật công nghiệp bao gồm sét thông minh và giải pháp giao thông thông minh trong thành phố thông minh, ứng dụng máy thông minh, ứng dụng điều khiển công nghiệp, trường hợp sử dụng sàn nhà máy, giám sát điều kiện, trường hợp sử dụng trong nông nghiệp, ứng dụng lưới điện thông minh và ứng dụng lọc dầu.
Vì vậy, ngay cả khi thuật ngữ này không phải là một thuật ngữ bao trùm như Internet of Things, nó vẫn bao hàm nhiều ứng dụng và trường hợp sử dụng tiềm năng.
Lợi ích của IIoT – Trình điều khiển Internet of Things công nghiệp
Rất nhiều tổ chức đang xem xét các ứng dụng IIoT và nhiều tổ chức đã bắt đầu, chắc chắn là ở các thị trường mới phát triển như sản xuất hoặc dầu khí . Nhưng những người khác vẫn đang chờ đợi hoặc không chắc chắn.
Theo nghiên cứu từ IDG vào năm 2016, 70% các tổ chức vẫn đang trong giai đoạn “cân nhắc”, “thảo luận sớm” hoặc “giai đoạn lập kế hoạch” như biểu đồ dưới đây chỉ ra.
Và điều này mặc dù có nhiều cơ hội, trong số những cơ hội khác liên quan đến tính liên tục trong kinh doanh, hiệu quả, giảm chi phí, v.v.
5 năm trước, người tiêu dùng hiếm khi thấy Internet of Things có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống riêng tư của họ. Ngày nay, họ ngày càng làm như vậy: không chỉ vì họ quan tâm đến công nghệ mà chủ yếu là vì một loạt các ứng dụng và thiết bị kết nối mới đã tung ra thị trường.
Những thiết bị này và khả năng của chúng đang thu hút sự chú ý lớn trên hầu hết mọi trang tin tức và trang web về công nghệ. Thiết bị đeo và đồng hồ thông minh, các ứng dụng được kết nối và nhà thông minh (với Nest của Google là ứng dụng phổ biến nhưng chắc chắn không phải là ứng dụng đầu tiên): có rất nhiều bạn biết các ví dụ
Mặc dù người ta nói rằng có một số sự mệt mỏi về công nghệ đang xuất hiện, sự kết hợp của các ứng dụng trong bối cảnh người tiêu dùng và niềm đam mê công nghệ chắc chắn đóng một vai trò trong sự chú ý ngày càng tăng đối với Internet of Things. Khía cạnh thu hút người tiêu dùng đó đứng trên tất cả các khả năng trong cuộc sống thực khi chúng bắt đầu được triển khai và thực tế theo ngữ cảnh và công nghệ, làm cho Internet of Things trở thành một trong những thuật ngữ công nghệ phổ biến rộng rãi. Rõ ràng, thị trường Internet of Things dành cho người tiêu dùng không chỉ được thúc đẩy bởi niềm đam mê công nghệ mới: các nhà sản xuất của họ thúc đẩy thị trường mạnh mẽ vì việc áp dụng có nghĩa là khả năng kinh doanh tin tức với vai trò quan trọng đối với dữ liệu.
Internet vạn vật tiêu dùng và thiết bị điện tử tiêu dùng
Với Internet of Things dành cho người tiêu dùng, chúng ta đang ở trong một thực tế điện tử tiêu dùng.
Mặc dù một số ứng dụng trong lĩnh vực này đã trở nên phổ biến (ví dụ: thể dục và sức khỏe cá nhân) , nhưng sự phát triển thực sự vẫn cần phải tiếp tục.
Dưới đây là một số thách thức trong lĩnh vực điện tử tiêu dùng cần giải quyết trước tiên:
Thiết bị thông minh hơn. Người tiêu dùng đang chờ đợi các thế hệ thiết bị đeo thông minh hơn và các sản phẩm Internet of Things, có thể thực hiện nhiều chức năng hơn mà không bị phụ thuộc quá nhiều vào điện thoại thông minh, như trường hợp của nhiều thiết bị như vậy ngày nay (hãy nghĩ đến những thế hệ đồng hồ thông minh đầu tiên cần có điện thoại thông minh ).
Bảo mật . Người tiêu dùng chưa tin tưởng vào Internet of Things, càng được củng cố bởi các vi phạm và phạm vi bảo hiểm của những vi phạm này. Hơn nữa, nó không chỉ là về bảo mật của các thiết bị mà còn về bảo mật của các giao thức truyền thông dữ liệu thấp (và hệ điều hành Internet of Things). Một ví dụ: tiêu chuẩn tự động hóa gia đình Zigbee đã được chứng minh là dễ bẻ khóa vào tháng 11 năm 2016.
Dữ liệu và quyền riêng tư. Ngoài những lo ngại về bảo mật, còn có những lo ngại liên quan đến việc sử dụng dữ liệu và quyền riêng tư. Sự thiếu tin tưởng liên quan đến dữ liệu, quyền riêng tư và bảo mật đã là một vấn đề trước những vi phạm này khi chúng tôi đề cập trong phần tổng quan về sự phát triển của thị trường điện tử tiêu dùng.
Một “lý do thuyết phục để mua”. Các thiết bị hiện tại được phân loại là Thiết bị Internet of Things dành cho người tiêu dùng vẫn còn tương đối đắt tiền, “ngớ ngẩn” và khó sử dụng. Chúng cũng thường thiếu một lợi ích duy nhất khiến người tiêu dùng ồ ạt mua chúng.
Thị trường Internet vạn vật dành cho người tiêu dùng: tập trung vào trải nghiệm và lợi ích
Trong khi trọng tâm của Internet vạn vật công nghiệp tập trung nhiều hơn vào lợi ích của các ứng dụng, thì Internet vạn vật dành cho người tiêu dùng lại hướng đến những trải nghiệm mới và nhập vai lấy khách hàng làm trung tâm.
Dự kiến, thị trường sẽ thực sự bắt đầu khởi sắc vào cuối năm 2017 hoặc 2018, khi Internet vạn vật tiêu dùng sẽ phát triển nhanh chóng trên một số loại thiết bị và ứng dụng, một khi các nhà sản xuất có thể đáp ứng các thách thức khác nhau.
Như đã đề cập, Internet of Things tiêu dùng thường là về thiết bị đeo thông minh và thiết bị gia dụng thông minh mà còn về TV thông minh, máy bay không người lái cho các ứng dụng tiêu dùng và một loạt các thiết bị có kết nối Internet of Things.
Điều quan trọng cần lưu ý là trên thực tế, Internet of Things của Người tiêu dùng trùng lặp với việc sử dụng Internet of Things trong một số ngành.
Ngoài các ví dụ như đồng hồ thông minh, như đã giải thích ở trên, rõ ràng CIoT cung cấp cho các nhà sản xuất thiết bị và ứng dụng những cơ hội quan trọng để tận dụng dữ liệu để xây dựng các luồng doanh thu mới, thậm chí cả quan hệ đối tác và hệ sinh thái mới để tận dụng dữ liệu này theo nhiều cách khác nhau. Quyền riêng tư và bảo mật dữ liệu sẽ vẫn là một thách thức trong vài năm tới nhưng đồng thời các thế hệ thiết bị mới với những lợi ích rõ ràng và tập trung vào trải nghiệm của người tiêu dùng sẽ thúc đẩy thị trường.Nghiên cứu về quyền sở hữu thiết bị của người tiêu dùng trong Internet of Things
Lãi suất mua thiết bị tiêu dùng được kết nối tính đến tháng 12 năm 2016
RFID trong cuộc sống của người tiêu dùng
RFID đã đi được một chặng đường dài. Ngay cả khi bạn không biết nó có nghĩa là gì, bạn vẫn “sử dụng” nó.
Ví dụ? Khóa cửa điện tử, nhiều thẻ tín dụng hiện đại, thẻ nhận dạng có RFID, danh sách còn dài.
RFID thậm chí còn được sử dụng nhiều đến mức cuối năm 2014, công ty bảo mật Norton và nhà thiết kế Steven B. Wheeler của Betabrand đã hợp tác để tạo ra chiếc quần jean chặn RFID (và NFC) đầu tiên trên thế giới để tránh bị đánh cắp dữ liệu.
Internet of Things trong kinh doanh: Internet of Everything (IoE)
Internet of Everything là một thuật ngữ do Cisco đặt ra nhưng cũng được các công ty khác sử dụng.
Internet of Things tập trung quá nhiều vào những thứ và như đã đề cập, nó cũng được sử dụng rất rộng rãi. Đó là lý do tại sao một số người bắt đầu phân biệt giữa Internet vạn vật tiêu dùng vừa đề cập và Internet vạn vật công nghiệp.
Cisco và các hãng khác thích sử dụng thuật ngữ Internet of Everything hơn, một phần vì vấn đề thuật ngữ ô nhiễm đó, một phần vì tập trung vào mọi thứ và một phần để cung cấp ngữ cảnh cho quan điểm và dịch vụ của họ. Nhưng nó không chỉ là tiếp thị. Internet of Everything hay IoE mô tả các khía cạnh quan trọng của IoT, đó là con người, dữ liệu, mọi thứ và quy trình; nói cách khác: điều gì tạo nên một doanh nghiệp. Đó là sự kết hợp quan trọng. Hơn nữa, minh họa cổ điển về Internet of Everything cũng cho thấy rõ ràng, chẳng hạn, từ máy này sang máy khác hoặc M2M là tất cả về cái gì.
Chúng tôi đã tự mình dựa trên mô tả cổ điển đó và thêm các kích thước của giá trị và phân tích dữ liệu.Internet của mọi thứ
Internet of Everything – định nghĩa, giá trị, con người, quy trình, dữ liệu, thiết bị
Internet of Things và rô bốt: Internet of Robotic Things (IoRT)
Bạn đã sẵn sàng cho một học kỳ khác chưa? Chúng ta bắt đầu: gặp gỡ Internet of Robotic Things, hay còn gọi là IoRT. Về cái gì?
Một trong những đặc điểm chính của Internet of Things là nó cho phép xây dựng những cầu nối mạnh mẽ hơn giữa thế giới vật lý và kỹ thuật số (không gian mạng). Bạn thấy nó trong tất cả các trường hợp sử dụng IoT và trong Internet vạn vật công nghiệp, bạn thấy nó trong cái gọi là Hệ thống vật lý mạng.
Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, trọng tâm chủ yếu tập trung vào phần ‘không gian mạng’, theo đó dữ liệu từ các cảm biến về cơ bản được tận dụng để đạt được một kết quả cụ thể với sự can thiệp của con người và tập trung vào phân tích dữ liệu và nền tảng ‘không gian mạng’. Cách nó xảy ra, như ABI Research, người đã đưa ra khái niệm IoRT (ngày nay là có thật), nói rằng về cơ bản nhiều ứng dụng và mô hình kinh doanh được xây dựng dựa trên sự tương tác thụ động.
Thị trường Internet of Robotic Things dự kiến sẽ đạt giá trị 21,44 tỷ USD vào năm 2022
Bằng cách thêm rô-bốt vào phương trình và thiết bị quay (rô-bốt) trong các thiết bị thực sự thông minh với khả năng giám sát nhúng, khả năng thêm dữ liệu cảm biến từ các nguồn khác, trí thông minh cục bộ và phân tán, kết hợp dữ liệu và thông minh để cho phép các thiết bị này xác định hành động để thực hiện và yêu cầu họ thực hiện những hành động này, trong phạm vi được xác định trước, bạn có một thiết bị có thể điều khiển / thao tác các đối tượng trong thế giới vật chất.
Nghe có vẻ phức tạp hoặc quá viễn vông? Ví dụ trong không gian của Công nghiệp 4.0 (với robot công nghiệp hợp tác), tự động hóa kho hàng (Amazon Robotics) và thậm chí cả robot cá nhân để dọn dẹp, v.v. làm cho nó trở nên hữu hình hơn. Vẫn còn là những ngày đầu đối với IoRT nhưng các dự án và hiện thực hóa trong giai đoạn tiếp theo này là có thật. IoRT không bị ràng buộc bởi sự khác biệt giữa IoT dành cho người tiêu dùng và công nghiệp, nó phổ biến ở khắp nơi.
Internet of Things kinh doanh trên các ngành: lĩnh vực và trường hợp sử dụng
Trước đây, chúng tôi đã đề cập đến việc Internet of Things ngày nay đã trở thành hiện thực trong một số ngành công nghiệp, nhiều hơn là trong các ứng dụng tiêu dùng. Tuy nhiên, cảnh quan phát triển nhanh chóng.
Internet of Things được sử dụng trong các ngành công nghiệp khác nhau cho nhiều trường hợp sử dụng điển hình cho các ngành công nghiệp này. Trên hết, có một danh sách dài các trường hợp sử dụng Internet of Things trên thực tế là đa ngành.
Khi Internet of Things được chấp nhận và triển khai ở các tốc độ khác nhau trong các lĩnh vực tiêu dùng và công nghiệp, chúng ta hãy xem xét một số ngành công nghiệp và trường hợp sử dụng chính thúc đẩy thị trường Internet of Things và các dự án Internet of Things.
Các khoản đầu tư vào Internet of Things đa ngành, đại diện cho các trường hợp sử dụng chung cho tất cả các ngành, chẳng hạn như phương tiện kết nối và tòa nhà thông minh, sẽ xếp hạng trong số các phân khúc hàng đầu vào năm 2020 (IDC)
Các mô hình và sự thay đổi trong ngành dọc và chi tiêu trong trường hợp sử dụng Internet of Things
Lưu ý rằng các trường hợp sử dụng lớn nhất và / hoặc phát triển nhanh nhất không phải lúc nào cũng liên quan đến các ngành lớn nhất và / hoặc phát triển nhanh nhất về chi tiêu cho Internet of Things.
Mặc dù dự kiến rằng về các trường hợp sử dụng sẽ có mức tăng trưởng cao trong các trường hợp sử dụng liên quan đến người tiêu dùng như chăm sóc sức khỏe cá nhân và các ứng dụng nhà thông minh, phần lớn chi tiêu lớn nhất đang và sẽ được thực hiện bởi các doanh nghiệp.
Trong số các lý do cho hiện tượng này:
Chi phí và phạm vi đầu tư. Một dự án Internet of Things toàn diện, toàn doanh nghiệp trong các môi trường công nghiệp như sản xuất hoặc hậu cần đắt hơn nhiều so với việc triển khai nhà thông minh.
Sự thay đổi trong các trường hợp và ngành sử dụng Internet of Things chính. Hãy nhớ rằng Internet of Things chủ yếu bắt đầu như một hiện tượng trong lĩnh vực công nghiệp và kinh doanh. Các ngành có nhiều tài sản vật chất hiện có có thể tiết kiệm chi phí nhanh chóng và hiệu quả của quy mô. Đó là lý do tại sao ngày nay họ chi tiêu nhiều hơn cho các dự án Internet of Things hơn là phân khúc người tiêu dùng, nơi chúng ta thấy nhiều thiết bị ‘mới’ hơn thay vì tài sản hiện có.
Internet of Things tiêu dùng bắt kịp . Khi các ngành công nghiệp tiếp tục dẫn đầu làn sóng chi tiêu cho Internet of Things hiện tại cho đến năm 2020, việc họ bắt đầu hoạt động trước và sự ra đời của ngày càng nhiều trường hợp sử dụng của người tiêu dùng và các giải pháp tốt hơn (an toàn hơn và hữu ích hơn) có nghĩa là dần dần Internet of Things của người tiêu dùng bắt kịp với Industrial Chi tiêu cho Internet of Things.
Sự gia tăng của các ứng dụng Internet of Things đa ngành và các kịch bản trong đó người tiêu dùng và doanh nghiệp gặp gỡ nhau trong các sáng kiến do doanh nghiệp thúc đẩy ( ví dụ: thúc đẩy viễn thông trong bảo hiểm, thúc đẩy đồng hồ thông minh trong các tiện ích) có tác động cân bằng áp dụng Internet of Things và chi tiêu.
Các ngành công nghiệp hàng đầu thúc đẩy Internet of Things cho đến năm 2020
Theo dữ liệu và dự báo về chi tiêu cho Internet of Things được IDC công bố vào đầu năm 2017, 3 ngành chính về chi tiêu cho IoT trong năm 2016 lần lượt là sản xuất, giao thông vận tải và tiện ích. Chi tiêu Internet of Things của người tiêu dùng xếp thứ tư.
Trong khi trên toàn cầu trong giai đoạn đến năm 2020, sản xuất sẽ vẫn là ngành công nghiệp chính (ngoại trừ Tây Âu), sẽ có những thay đổi toàn cầu trong top 3 này. Trong số các ngành phát triển nhanh nhất trong giai đoạn đến năm 2020 là bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe, bán lẻ, tiêu dùng và , như đã đề cập, các sáng kiến liên ngành.
Rõ ràng, có sự khác biệt giữa chi tiêu cho Internet of Things và số lượng dự án Internet of Things.
Một báo cáo của IoT Analytics, thực sự là danh sách 640 dự án Internet of Things trong đời thực, chỉ ra rằng từ góc độ số lượng dự án ngành kết nối đứng đầu nhưng theo sau là việc triển khai thành phố thông minh ( nơi chúng tôi đã đề cập đến báo cáo ) , xếp hạng thứ hai.
Tại sao lại có sự khác biệt này? Trên thực tế là các công ty khác nhau sử dụng các cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau (ngay cả khi bạn so sánh dự báo chi tiêu thay vì chi tiêu và các dự án như chúng tôi làm ở đây) , có một thực tế rất đơn giản là nhiều dự án thành phố thông minh có xu hướng rẻ hơn nhiều so với các dự án công nghiệp . Trong hầu hết các dự án thành phố thông minh, băng thông dữ liệu thấp là cần thiết và thiết bị, tùy thuộc vào các trường hợp sử dụng sẽ rẻ hơn nhiều. Ví dụ: công nghệ kết nối rẻ nhất hiện nay trên phạm vi xa hơn, LPWAN không di động như LoRa và Sigfox, chủ yếu được tìm thấy trong các dự án thành phố thông minh.
Internet of Things trong sản xuất
Với “nguồn gốc” của Internet of Things (hãy nhớ RFID) và các trường hợp sử dụng điển hình nhất (sơ khai), sản xuất (hiện tại) vẫn đang dẫn đầu.
Theo cùng một dữ liệu IDC mà chúng tôi đã đề cập trước đó, được công bố vào đầu năm 2017, ngành sản xuất đạt kết quả tốt với tổng chi tiêu cho Internet of Things là 178 tỷ đô la trong năm 2016, cao hơn gấp đôi so với thị trường dọc lớn thứ hai (về chi tiêu) , vận chuyển.
Jim Tully, nhà phân tích của Gartner cho biết đã có 307 triệu đơn vị được lắp đặt tại thời điểm hỏi đáp trong ngành sản xuất, nơi các hệ thống có cảm biến luôn được đưa vào quy trình sản xuất và tự động hóa. Trong một dự báo tháng 5 năm 2015 về sự tăng trưởng trên toàn thế giới của thị trường Internet of Things (sẵn sàng tăng trưởng 19% vào năm 2015), IDC dự báo rằng thị trường Internet of Things trong hoạt động sản xuất sẽ đạt 98,8 tỷ đô la vào năm 2018. Các động lực: tối ưu hóa hiệu quả và “liên kết các hòn đảo của tự động hóa ”.
Hoạt động sản xuất – trường hợp sử dụng Internet of Things chính trong sản xuất năm 2016 chiếm hơn 57% tổng chi tiêu IoT trong sản xuất
Theo một báo cáo tháng 2 năm 2015 của PwC, phần lớn các nhà sản xuất Hoa Kỳ đã triển khai các thiết bị để thu thập, phân tích / đo lường và hành động dựa trên dữ liệu. Infographic đi kèm với báo cáo, đề cập đến dữ liệu từ một cuộc khảo sát được thực hiện vào tháng 2 năm 2014. Theo cuộc khảo sát đó, 34,6% người được hỏi đã triển khai các thiết bị và cảm biến để thu thập dữ liệu này và 9,6% khác sắp triển khai các thiết bị Internet of Things trong một năm. Chỉ 24% trong số tất cả những người được hỏi từ ngành công nghiệp sản xuất Hoa Kỳ cho biết họ không có kế hoạch triển khai các thiết bị thu thập, phân tích và hành động dựa trên dữ liệu.
66% những người đi đầu trong lĩnh vực sản xuất nói rằng Internet of Things hiện là rất quan trọng đối với sự thúc đẩy cạnh tranh
Các nhà sản xuất Hoa Kỳ đã sử dụng Công nghệ Internet of Things trong nhà máy sản xuất (32%), tiếp theo là nhà kho, chuỗi cung ứng mở rộng và môi trường khách hàng.
Khi xem xét việc sử dụng Internet vạn vật công nghiệp và sản xuất, cũng cần lưu ý tầm quan trọng của các hệ thống vật lý mạng (đôi khi được sử dụng tương tác với IIoT, điều này không đúng) và khái niệm / thực tế của cặp song sinh kỹ thuật số trong Internet công nghiệp và Công nghiệp 4.0 .
Internet of Things trong sản xuất: các trường hợp sử dụng
Các trường hợp sử dụng Internet of Things trong sản xuất bao gồm một loạt các ứng dụng, bao gồm:
Tully nói, bán lẻ đang tăng nhanh, cả về hoạt động và hoàn cảnh đối mặt với khách hàng.
Trong dự báo đã đề cập về sự tăng trưởng trên toàn thế giới của thị trường Internet of Things, IDC cũng nhấn mạnh đến lĩnh vực bán lẻ trong nỗ lực không ngừng để số hóa trải nghiệm của người tiêu dùng. IDC nhận thấy biển báo kỹ thuật số tại các cửa hàng bán lẻ thực tế là động lực lớn trong năm 2015. Cũng nên nhớ rằng thuật ngữ Internet of Things lần đầu tiên được đề cập đến như thế nào trong bối cảnh quản lý chuỗi cung ứng trong môi trường bán lẻ và hàng tiêu dùng. Chính trong việc tối ưu hóa các quy trình và hậu cần mà Internet of Things mang lại lợi ích tức thì cho các nhà bán lẻ. Tuy nhiên, rõ ràng là các khía cạnh liên quan đến khách hàng và hàng tồn kho cũng quan trọng rất nhiều.
Việc sử dụng Internet of Things trong bán lẻ, trong số những người khác, thay đổi trải nghiệm khách hàng, dẫn đến hiểu biết khách hàng tốt hơn, cho phép hợp tác và mô hình kinh doanh mới, đồng thời làm mờ ranh giới giữa kỹ thuật số và vật lý trong bối cảnh tại cửa hàng.
Internet of Things trong bán lẻ – những trải nghiệm tích cực được báo cáo bởi những người đi đầu – nguồn Verizon: “State of the Market – Internet of Things 2016”
Các nhà bán lẻ đang hợp tác với Internet of Things để có một số phương pháp tiếp cận sáng tạo và đa dạng, từ tủ quần áo ảo và tự thanh toán cho đến kệ thông minh (độ chính xác của hàng tồn kho) và máy bán hàng tự động được kết nối.Internet of Things trong bán lẻ
Internet of Things trong chính phủ và các thành phố
Internet of Things đã được sử dụng trong nhiều hoạt động và tầng lớp của chính phủ khi các nỗ lực chuyển đổi kỹ thuật số được xếp hạng cao trong danh sách ưu tiên chuyển đổi của chính phủ . Rõ ràng, khu vực chính phủ là một hệ sinh thái rất rộng lớn và rất nhiều trường hợp sử dụng Internet of Things trong chính phủ.
Ngoài việc sử dụng Internet of Things cho các dịch vụ quốc gia, khu vực, siêu quốc gia, địa phương và các dịch vụ liên quan đến chính phủ (thường được cung cấp bởi các cơ quan chính phủ hoặc các nhà cung cấp dịch vụ được quản lý, bán kiểm soát và được nhà nước tài trợ) , Internet of Things sớm hơn hoặc sau này thường liên quan đến chính phủ. Ví dụ, hãy nghĩ về các quy định. Hay vai trò của các chính phủ trong lĩnh vực năng lượng. Và chúng ta đừng quên an ninh và an toàn.
Thành phố thông minh và các dịch vụ công phục vụ người dân
Có lẽ cách sử dụng Internet of Things nổi tiếng nhất trong bối cảnh chính phủ liên quan đến các thành phố thông minh, trên thực tế chủ yếu là các ứng dụng thành phố thông minh.
Dự án thành phố thông minh là điều mà mọi người nghe đến nhiều nhất và được chú ý rất nhiều, trong số đó có những dự án thành phố thông minh gần gũi với cuộc sống hàng ngày của cư dân. Một lý do khác tại sao thành phố thông minh thường được đề cập là các dự án thành phố thông minh trên thực tế chiếm một phần lớn trong việc triển khai Internet of Things. Hãy suy nghĩ về quản lý chất thải thông minh (thường là vấn đề địa phương), bãi đậu xe thông minh và giám sát môi trường.
Một lĩnh vực khác mà chúng ta thấy Internet of Things xuất hiện là trong các dịch vụ công cộng dành cho người dân.
Ở mức độ lớn, các trường hợp sử dụng thành phố thông minh trùng lặp với các trường hợp sử dụng Internet of Things trong các dịch vụ công vì một trong những nhiệm vụ trọng tâm của thành phố là phục vụ người dân. Tuy nhiên, với các dịch vụ công chúng tôi còn vượt ra khỏi cấp độ địa phương / đô thị. Mức độ chồng chéo phụ thuộc vào cách tổ chức các dịch vụ của chính phủ ở một quốc gia hoặc khu vực cụ thể. Ví dụ: các sáng kiến Internet of Things trong các dịch vụ công phục vụ người dân bao gồm các sáng kiến địa phương đã được đề cập nhưng cũng có năng lượng thông minh (thường là với các đối tác do nhà nước tài trợ) .
Cải thiện sự hài lòng của người dân là mục tiêu chính khi xem xét hoặc triển khai Internet of Things và các công nghệ mới nổi khác – nguồn Accenture infographic
Cơ sở hạ tầng, chăm sóc sức khỏe, an toàn và an ninh
Dịch vụ công đưa chúng ta đến cơ sở hạ tầng. Một lần nữa, đây là một danh mục rộng có thể được tổ chức bởi một số đối tác trong hệ sinh thái của chính phủ. Lưới điện thông minh là một ví dụ, các con đường thông minh khác (trong trường hợp cơ sở hạ tầng đường bộ là vấn đề quốc gia hoặc ‘dùng chung’) . Nhưng cũng nên nghĩ về các ứng dụng như thu phí.
Tiếp theo là an toàn và bảo mật. Ở cấp độ quốc gia, điều này chắc chắn cũng bao gồm quốc phòng và khu liên hợp công nghiệp-quân sự. Ở các cấp độ khu vực hơn, chúng tôi thấy các ứng dụng như chiếu sáng thông minh (có mối liên hệ giữa chiếu sáng không gian công cộng và tội phạm) , các hình thức kiểm soát danh tính, giám sát, v.v. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, đó là vai trò của Internet of Things trong việc cảnh báo an ninh, chống lại thảm họa thiên nhiên, v.v.
Điều đó đưa chúng ta đến với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe , một lĩnh vực khác đang trải qua quá trình chuyển đổi kỹ thuật số và có liên quan chặt chẽ với chính phủ. Chăm sóc sức khỏe được tổ chức khác nhau trên toàn cầu, từ tài trợ đến bảo hiểm chăm sóc sức khỏe và chăm sóc thực tế. Tuy nhiên, luôn có một thành phần chính phủ. Chăm sóc sức khỏe là một thị trường quan trọng của Internet of Things.
Hơn nữa, các chính phủ có vai trò đối với sức khỏe cộng đồng có thể được nâng cao bằng cách thực hiện các sáng kiến sử dụng Internet of Things và phối hợp với tư nhân với các đối tác do nhà nước tài trợ. Nhân tiện, đối với an toàn công cộng cũng vậy. Một ví dụ: sự hợp tác giữa chính phủ và các công ty bảo hiểm, tận dụng công nghệ viễn thông.
Sự toàn diện của Internet of Things trong chính phủ – cơ hội, quy định và thách thức
Thực sự có hàng trăm cách mà các chính phủ tận dụng và có thể tận dụng Internet of Things để cải thiện trải nghiệm của người dân, tiết kiệm chi phí và không quên, tạo ra các dòng doanh thu mới.
Điều thứ hai là khá quan trọng vì nhiều dự án IoT có tác động đến nguồn vốn của các thành phố. Một ví dụ đơn giản: nếu bạn có một giải pháp đỗ xe thông minh hoạt động hoàn hảo trong một thành phố, bạn sẽ mất doanh thu vì tất cả những lý do rõ ràng. Vì vậy, không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn là tìm ra những cách sáng tạo để biến trải nghiệm công dân và dịch vụ công dân được nâng cao trong một bức tranh toàn cầu có lợi cho tất cả mọi người.
Điều này cần thời gian, lập kế hoạch và như bạn có thể tưởng tượng, do sự phức tạp của hệ sinh thái chính phủ, rất nhiều sự liên kết và phối hợp.
Ở một số quốc gia và ở cấp siêu quốc gia, các sáng kiến được thực hiện và dự kiến sẽ cấp vốn cho một loạt các sáng kiến ’thông minh’, nơi mà các thành phố và cơ quan chính phủ thường có thể hưởng lợi trong phạm vi các dự án trong một khu vực được chỉ định và một chương trình nghị sự với mục tiêu rõ ràng . Đồng thời, các chính phủ ngày càng tích cực hơn trong lĩnh vực bảo mật và quy định của Internet of Things, như đã nói, luôn ở gần đó. Ví dụ, hãy lấy chiếc xe được kết nối của tương lai. Rõ ràng là các chính phủ sẽ tham gia rất nhiều vào việc này và nó ít rõ ràng hơn những gì có thể tưởng tượng. Chỉ để cho bạn một ý tưởng: ở một số quốc gia, các quy định giao thông đã hoàn toàn lộn xộn vì sự xuất hiện của xe đạp điện nhanh. Bạn có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra khi các phương tiện được kết nối và ‘thông minh’.
Internet of Things trong các tòa nhà và cơ sở
Internet of Things đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý cơ sở vật chất , trong số những thứ khác bao gồm cả các tòa nhà thông minh.
Việc tích hợp CNTT (Công nghệ thông tin) và OT (Công nghệ hoạt động) đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề này giống như nó đã làm trong sự phát triển nhanh chóng của Internet vạn vật công nghiệp. Nhờ có Internet of Things và sự hội tụ CNTT / OT này, các nhà quản lý cơ sở và các chuyên gia xây dựng có thể thực hiện các mục tiêu khác nhau. Những điều này phụ thuộc vào bản chất và phạm vi của cơ sở / tòa nhà.
Các tòa nhà thông minh nằm trong số các trường hợp sử dụng Internet of Things xuyên ngành phát triển nhanh nhất trong giai đoạn cho đến năm 2020. Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra rằng việc thu thập dữ liệu từ các tòa nhà và các cấu trúc khác như HVAC đã ở mức cao. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, thị trường và sự phát triển của BMS ( Hệ thống Quản lý Tòa nhà ) bị tác động mạnh mẽ bởi Internet of Things. Theo nghiên cứu, Internet of Things là một trong những động lực chi phối cả chi tiêu và diễn biến trên thị trường BMS, dự báo sẽ tăng trưởng với tốc độ CAGR là 16,7% từ năm 2017 đến năm 2023 theo một trong nhiều nghiên cứu liên quan đến thị trường BMS đó. .
Như hình bên dưới chỉ ra, các hệ thống quản lý tòa nhà đang trở thành trung tâm kết nối trong một thế giới ngày càng có nhiều điểm cuối hơn trong các tòa nhà được tận dụng bởi một số hệ thống quản lý tòa nhà nhưng theo đó BMS đóng vai trò trung tâm và kết nối vì cuối cùng tất cả là về phân tích và các hành động, theo đó chủ sở hữu tòa nhà muốn có một nền tảng trung tâm mà BMS sẽ là và trên thực tế phần lớn đã là như vậy.
Tận dụng dữ liệu từ các tài sản của cơ sở hỗ trợ IoT, cùng với nền tảng Internet of Things mới và quản lý cơ sở, với các khả năng nhúng, đang dẫn đến các khả năng và lợi ích trong các lĩnh vực quản lý tòa nhà như:
Hệ thống an ninh tòa nhà thông minh hơn.
Hệ thống sưởi, thông gió và điều hòa không khí (HVAC) thông minh hơn.
Nơi làm việc và tòa nhà an toàn và thoải mái / lành mạnh hơn.
Cơ sở vật chất tối ưu hóa chất lượng dịch vụ.
Giảm chi phí, cũng trong bối cảnh xây dựng xanh và giảm tiêu thụ năng lượng và nước.
Lập kế hoạch tốt hơn, hiệu quả hoạt động và tăng cường phân bổ nguồn lực.
Dự đoán bảo trì và lập kế hoạch bảo trì cơ sở.
Kiểm soát, cấu hình và quy định thiết bị của cơ sở.
Danh sách này còn lâu mới toàn diện. Vì có nhiều loại tòa nhà khác nhau, mỗi tòa nhà đều có những thách thức riêng, cơ sở hạ tầng, công nghệ và hơn hết là các mục tiêu, bối cảnh của việc quản lý và tự động hóa tòa nhà là rất rộng lớn.
Chỉ trong điều khiển ánh sáng và phòng, có một số điều khiển như điều khiển mù, điều khiển đơn vị AC và thực sự là hàng chục điều khiển khác.
Toàn cảnh quản lý và tự động hóa tòa nhà tổng thể đã tồn tại từ trước khi Internet of Things tồn tại và bao gồm nhiều chuyên môn khác nhau, mỗi chuyên ngành đều có tiêu chuẩn của chúng (ví dụ: KNX trong kiểm soát phòng hoặc BACnet trong hệ thống quản lý tòa nhà) , các chương trình chứng nhận cho các tòa nhà xanh (sinh thái và năng lượng / các quy định về sinh thái là động lực chính ) và đối với các đối tác kênh OT, công nghệ, mạng, giải pháp và tất nhiên là các mục tiêu (mục tiêu của một không gian văn phòng, tòa nhà hoặc thậm chí phòng họp hỗ trợ IoT không giống với bệnh viện, ngay cả khi có luôn trùng lặp) .
Tuy nhiên, với Internet of Things, những thế giới này đang hội tụ (và các tiêu chuẩn đã được phát triển thành IP) . Đây là một thách thức và cơ hội cho những người chơi khác nhau, những người đều có kỹ năng của họ nhưng hiếm khi có thể đưa ra bức tranh toàn cảnh.
Ví dụ, HVAC yêu cầu các khả năng hoàn toàn khác với hệ thống quản lý điện năng hoặc quản lý tòa nhà. Đó là lý do tại sao các công ty như Schneider Electric đã phát triển các chương trình chứng nhận đối tác và nhà tích hợp hệ thống cho các chuyên ngành xây dựng thông minh khác nhau, nhờ đó cái gọi là EcoXperts ( EcoXpert là tên của chương trình đối tác) có thể học các kỹ năng mới, kết nối, mở rộng sang các lĩnh vực mới và thậm chí nhiều huy hiệu chứng nhận vì Internet of Things đang ngày càng thống trị tất cả các lĩnh vực xây dựng. Một số người chơi trong các phân khúc này có nền tảng cơ khí hơn, những người khác có nền tảng điện và vẫn còn những người khác, chẳng hạn như bộ tích hợp hệ thống, nền tảng tùy chỉnh và phần mềm (PLC).
Trong số các nhà cung cấp này, chúng tôi tìm thấy:
Các chuyên gia kiểm soát ánh sáng và phòng.
Các chuyên gia trong các lĩnh vực rất cụ thể như HVAC.
Người chơi trong lĩnh vực quản lý tòa nhà rộng hơn, chủ yếu trong các tòa nhà lớn.
Các nhà thầu điện thường tham gia nhiều hơn vào các tòa nhà vừa và nhỏ, nơi họ có thể cung cấp các giải pháp năng lượng thông minh hoặc chuyên về tự động hóa gia đình.
Các chuyên gia về nguồn điện quan trọng , mà bạn thường tìm thấy ở các sân bay, bệnh viện và các tòa nhà khác, nơi chất lượng và độ tin cậy của nguồn điện là rất quan trọng trong mọi khía cạnh.
Internet of Things đã có mặt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe dưới nhiều hình thức từ vài năm nay.
Với việc theo dõi chăm sóc sức khỏe từ xa và theo dõi, giám sát và bảo trì tài sản y tế / bệnh viện là những ví dụ điển hình của những ứng dụng ban đầu này, bộ mặt của Internet of Things trong chăm sóc sức khỏe đang thay đổi nhanh chóng.
Trong số những sự phát triển và động lực của Internet of Things trong chăm sóc sức khỏe:
Ý thức và sự tham gia ngày càng tăng từ phía người tiêu dùng / bệnh nhân dẫn đến các mô hình mới, tận dụng các thiết bị chăm sóc sức khỏe cá nhân.
Ở góc độ tích hợp hơn, dữ liệu từ cảm biến sinh học, thiết bị đeo và màn hình được sử dụng trong các hệ thống y tế thời gian thực và để tiết kiệm thời gian cho người chăm sóc, phát hiện các mẫu, nhận thức rõ hơn và tăng chất lượng chăm sóc.
Một loạt các đổi mới trong các lĩnh vực như viên thuốc thông minh và robot phân phối ngày càng tốt hơn giúp chăm sóc sức khỏe hiệu quả hơn và tiết kiệm tài nguyên, đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc.
Cho dù đó là cấp độ của người chăm sóc và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, người trả tiền chăm sóc sức khỏe, ngành dược phẩm, bệnh nhân (người nên đến trước và yêu cầu) hay các bên liên quan khác trong bức tranh chăm sóc sức khỏe rộng lớn hơn: chúng tôi đang chuyển từ triển khai Internet of Things thời kỳ đầu và sớm và các trường hợp sử dụng cho vai trò quan trọng hơn nhiều của Internet vạn vật trong chăm sóc sức khỏe.
Hình bên dưới cho thấy tầm quan trọng của việc giám sát từ xa như trường hợp sử dụng chính trong chăm sóc sức khỏe từ góc độ chi tiêu cho đến năm 2020 và sự tăng trưởng liên tục trong những năm sau đó với một số thiết bị theo dõi dấu hiệu quan trọng, tiếp theo là cách các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và người chi trả dịch vụ chăm sóc sức khỏe có kế hoạch tận dụng Internet of Things và cuối cùng là dữ liệu tăng trưởng thị trường chăm sóc sức khỏe thông minh, dựa trên IDC, Technavio và Grand View Research.
Một số diễn biến và dự báo trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe IoT với số lượng:
Nghiên cứu cho thấy rằng vào năm 2019, 89% tất cả các tổ chức chăm sóc sức khỏe sẽ áp dụng công nghệ IoT và Internet of Things sẽ là yếu tố cần thiết trong các sáng kiến của các nhà cung cấp và chi trả dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong năm 2017 và 2018.
Trong số những lợi ích chính được nhận thấy của IoT chăm sóc sức khỏe trong tương lai là tăng năng suất lực lượng lao động (57%), tiết kiệm chi phí (57%), tạo ra các mô hình kinh doanh mới (36%) và hợp tác tốt hơn với đồng nghiệp và bệnh nhân (27%). Tuy nhiên, những lợi ích chính được báo cáo vào tháng 3 năm 2017 là tăng cường đổi mới (80%), khả năng hiển thị trong toàn tổ chức (76%) và tiết kiệm chi phí (73%).
Nghiên cứu khác cho thấy thiết bị đeo được sẽ đóng vai trò quan trọng trong các kế hoạch chăm sóc sức khỏe , dữ liệu thiết bị IoT lâm sàng sẽ giải phóng đáng kể thời gian của bác sĩ vào năm 2019 (lên đến 30%) và sẽ có vai trò ngày càng tăng đối với cảm biến sinh học hỗ trợ IoT và rô bốt dùng thuốc và cung cấp vật tư trong bệnh viện vào năm 2019 như hình bên dưới cho thấy.
Internet of Things trong các tiện ích và năng lượng
Đối mặt với những thách thức lớn và sự biến đổi vì một số lý do, các công ty tiện ích đã lắp đặt 299 triệu thiết bị theo Tully của Gartner. Bên cạnh các tiện ích theo nghĩa truyền thống, còn có rất nhiều điều xảy ra trong lĩnh vực dầu khí và năng lượng.
Trong số nhiều trường hợp sử dụng điển hình trong các công ty tiện ích: đồng hồ thông minh để cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng, từ quan điểm hộ gia đình (tiết kiệm, giám sát tốt hơn, v.v.) và quan điểm của công ty tiện ích (thanh toán, quy trình tốt hơn và tất nhiên cũng xử lý tài nguyên thiên nhiên trong một cách hiệu quả hơn vì chúng không phải là vô tận) và lưới thông minh (còn hơn cả Internet of Things).
Internet of Things trong ô tô
Xe ô tô được kết nối và tất cả những sự phát triển khác trong ngành công nghiệp ô tô cũng đang thúc đẩy thị trường.
Một lần nữa, theo nghiên cứu tương tự của IDC, xe kết nối là thị trường Mỹ nóng nhất trong bức tranh tổng thể. Xe hơi được kết nối là một trong những ví dụ điển hình khi Internet vạn vật tiêu dùng và Internet vạn vật công nghiệp chồng chéo lên nhau.
Internet of Things trong các lĩnh vực khác
Các ngành công nghiệp khác bao gồm chăm sóc sức khỏe, giao thông vận tải (nơi “thiết bị thông minh” và cảm biến đã tồn tại từ khá lâu) , hậu cần, nông nghiệp và hơn thế nữa.
Thêm vào đó là bối cảnh người tiêu dùng và bạn biết tại sao nó lại là một chủ đề nóng như vậy. Hãy theo dõi để biết tổng quan chi tiết hơn cho từng ngành với nhiều ví dụ khác nhau về các ứng dụng trong thực tế và với các trường hợp sử dụng khác nhau cho mỗi ngành.
Các dự án và ví dụ về Internet of Things
Ngoài việc xem xét các trường hợp sử dụng và ứng dụng Internet of Things trong các ngành cụ thể, bạn nên dành thời gian để xem nó được tận dụng như thế nào trong thực tế, bất kể lĩnh vực nào.
Khi tìm kiếm các trường hợp sử dụng, bạn chủ yếu sẽ tìm thấy các ví dụ về các tình huống và mục tiêu trong đó việc triển khai Internet of Things có thể được phân loại. Những trường hợp sử dụng này có xu hướng sử dụng một cách phân loại khác, tùy thuộc vào công ty nghiên cứu hoặc công ty sử dụng chúng.
Các ví dụ về Internet of Things theo nghĩa các trường hợp thực tế và triển khai trong đời thực giúp bạn thấy cơ sở kinh doanh hợp lý đằng sau việc triển khai. Như đã nói, hãy kiểm tra chúng, bất kể ngành nào vì những lợi ích và kết quả tìm kiếm thường tương đối phổ biến.
Dưới đây là một số ví dụ mà chúng tôi đã giải thích trước đây, hãy xem chúng!
Trường hợp kinh doanh Internet of Things công nghiệp: phát triển một dịch vụ mới tại ABB Robotics
Ví dụ về sản xuất này về cơ bản xoay quanh khả năng tạo ra các dịch vụ và doanh thu bổ sung và tích cực (mới) nhờ vào Internet of Things.
Nó giải thích cách ABB Robotics, bộ phận robot công nghiệp của ABB, đã kết nối các robot mà họ bán cho khách hàng và nhờ kết nối này nâng cao dịch vụ khách hàng và hơn thế nữa, khai thác sức mạnh của dữ liệu và thông tin chi tiết có thể hành động. Vụ việc dựa trên thông tin từ Jasper (Cisco).Trường hợp IoT của Industry 4.0: các dịch vụ được kết nối tại ABB Robotics
Ví dụ về thành phố thông minh Internet of Things: giải quyết ô nhiễm không khí ở Glasgow
Trường hợp Internet of Things này phù hợp với một ứng dụng thành phố thông minh (hãy nhớ rằng thành phố thông minh không chỉ về Internet of Things mà thậm chí không chỉ về công nghệ).
Cụ thể hơn, ví dụ về Internet of Things này phóng to một thách thức liên quan đến giám sát môi trường và chất lượng không khí ở thành phố Glasgow. Thật thú vị từ quan điểm của các mục tiêu nhưng trên hết là từ quan điểm của một thành phần – bổ sung – di động, giúp tăng cường đáng kể khả năng giám sát tốt hơn và trong nhiều hoàn cảnh hơn của thành phố so với trước đây. Trường hợp này dựa trên một nghiên cứu điển hình về Libelium có trụ sở tại Tây Ban Nha.Ứng dụng IoT của thành phố thông minh: Glasgow kiểm soát động chất lượng không khí-
Ví dụ về Internet of Things cấp cơ sở về môi trường: hệ thống cảnh báo lũ lụt
Internet of Things thường được sử dụng trong bối cảnh môi trường và giám sát các mối nguy hiểm tiềm ẩn, từ các vụ phun trào núi lửa như bạn có thể thấy trong ví dụ của chúng tôi về giám sát lũ lụt.
Theo dõi mực nước dâng và thu thập dữ liệu để cảnh báo người dân và các trường hợp địa phương cần thiết nhanh hơn trong trường hợp có khả năng xảy ra lũ lụt là những gì trường hợp cụ thể này hướng tới. Nó có một kích thước cơ sở và cho thấy cách đo lường một số thông số (ví dụ như mực nước ngầm) có thể dẫn đến các hệ thống tốt hơn mà không bị vỡ bờ.Trường hợp Internet of Things: một ứng dụng mạng cảm biến lũ lụt Calderdale
Ví dụ về IIoT và Industry 4.0: một trường hợp kinh doanh khai thác
Nếu bạn nghĩ rằng Internet of Things và chuyển đổi kỹ thuật số không dành cho các ngành công nghiệp đã có từ lâu đời, hãy suy nghĩ lại.
Với một loạt thách thức, không kém phần liên quan đến kết nối IP, mỏ ngầm Chelopech ở Bulgaria đã được chuyển đổi thành ví dụ về Internet vạn vật và Internet công nghiệp với một số kết quả như tăng sản lượng đáng kể, nâng cao an toàn cho thợ mỏ, khả năng giao tiếp và tiết kiệm, khả năng bảo trì và giải quyết vấn đề không thể trước đây cũng như hiểu biết nhanh chóng về tổng thể sản xuất. Như Giám đốc điều hành của Dundee Precious Metals, chủ sở hữu của mỏ vàng và đồng, cho biết vào năm 2016, ngành khai thác mỏ cũng cần có sự đổi mới đột phá. Và trong khi điều đó đang diễn ra ở Chelopech và các mỏ khác của Dundee và những mỏ khác (Rio Tinto, Glencore, v.v.) , nhiều mỏ vẫn cần phải bắt tay vào cuộc hành trình. Có thể trường hợp cung cấp một số cảm hứng.Trường hợp ngành khai thác mỏ trong Industry 4.0: Dundee Precious Metals
Internet of Things và trường hợp quản lý cơ sở thông minh: đổi mới kinh doanh trong thị trường phát triển bất động sản
Internet of Things thường được sử dụng để phát triển các dịch vụ mới, các dòng doanh thu và cuối cùng là thậm chí cả các mô hình kinh doanh.
Đó là bản chất của Công nghiệp 4.0 và chuyển đổi kỹ thuật số. Trước đây, chúng tôi đã giải quyết vấn đề Internet of Things trong các tòa nhà thông minh và quản lý cơ sở thông minh. Đây là một trường hợp kết hợp tiềm năng để khai thác các dòng doanh thu mới trong phạm vi quản lý cơ sở.
Công ty xây dựng / xây dựng và phát triển bất động sản Hà Lan Heijmans hiểu rõ tiềm năng của việc quản lý cơ sở thông minh và các tòa nhà thông minh trong các tòa nhà văn phòng. Vì vậy, họ bắt đầu hợp tác với một số công ty khác, bao gồm cả đối tác hệ sinh thái tự nhiên trong phạm vi tòa nhà văn phòng, cụ thể là công ty vệ sinh, để tìm ra giải pháp không chỉ bổ sung dịch vụ cho khách hàng hiện tại và tương lai mà còn làm cho cuộc sống của nhân viên văn phòng (không gian làm việc kỹ thuật số), người dọn dẹp, quản lý cơ sở và quản lý cấp cao dễ dàng hơn trong nhiều nhiệm vụ và nhu cầu trên mỗi phân khúc mục tiêu đã xác định.
Điều này dẫn đến một giải pháp cung cấp một loạt các công cụ kiểm soát, lập kế hoạch, bảo trì và hiệu quả cho từng nhóm trong số bốn nhóm mục tiêu đã đề cập. Đối với bản thân công ty, đó là một cách để mở rộng danh mục đầu tư, bán thêm và khai thác các dòng doanh thu mới cho khách hàng và bất kỳ ai cần loại giải pháp này.Trường hợp IoT: dịch vụ quản lý cơ sở thông minh tại Heijmans
Công nghệ IoT: đám mây, điện toán sương mù và điện toán biên
Khi có quá nhiều dữ liệu được tạo ra và ngày càng được tạo ra với Internet of Things, các cách phi tập trung mà những dữ liệu này được tạo ra cần có những cách giải quyết khác nhau, trong số những cách khác theo cách chúng được vận chuyển, xử lý và phân tích, thúc đẩy các hành động (tự động).
Từ đám mây đến sương mù trong IoT
Một trong những cách tiếp cận này là điện toán sương mù , một kiến trúc cấp độ hệ thống (và dạng điện toán biên) mở rộng khả năng tính toán, mạng và lưu trữ của đám mây đến rìa của mạng.
Điều này đặc biệt quan trọng khi liên quan đến một khu vực địa lý rộng lớn, khi dữ liệu cần được xử lý cực kỳ nhanh và dữ liệu được thu thập ở mức cực hạn như cách gọi của Cisco, chẳng hạn như trên các giàn khoan dầu hoặc trên tàu.
Điện toán sương mù không phải là khía cạnh công nghệ duy nhất để đối phó với thực tế liên quan đến dữ liệu, băng thông, các yêu cầu xử lý và phân tích của các dự án IoT.
Ngoài ra còn có nhiều công nghệ khác, trong số những công nghệ khác liên quan đến kết nối như chúng ta thấy bên dưới, có liên quan. Các thành phần công nghệ khác bao gồm phần mềm trung gian, cảm biến, bộ truyền động và phần cứng khác, đám mây, mạng mà chúng tôi giải quyết bên dưới, v.v. Trong tương lai, mạng không dây 5G mang lại các phương pháp và giải pháp di động mới cho một số thách thức đã đề cập sẽ thúc đẩy IoT nhưng đó là cho năm 2020 và hơn thế nữa.
Vai trò ngày càng tăng của sương mù và điện toán biên trong IoT
Các thuật ngữ điện toán sương mù và điện toán biên ngày nay được sử dụng thay thế cho nhau mặc dù có sự khác biệt giữa cả hai.
Thị trường điện toán biên toàn cầu dự kiến sẽ đạt 6,72 tỷ USD vào năm 2022 với tốc độ CAGR là 35,4%
Với những thách thức và cơ hội to lớn trên mặt trận dữ liệu phi cấu trúc, điều quan trọng là phải xem xét sự phát triển của điện toán biên, chắc chắn trong nhiều ứng dụng công nghiệp hơn, nơi phân tích gần với điểm xuất phát sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn khi khối lượng dữ liệu tăng lên, mọi thứ di chuyển Về lợi thế, các mạng trở nên thông minh hơn và tài nguyên cần được phân bổ tốt, tránh gửi đi gửi lại quá nhiều tập dữ liệu lớn.
Sự gia tăng liên tục của điện toán biên trong IoT (và chủ yếu là IoT công nghiệp) là một trong những bước phát triển chính của IoT trong năm 2018 và những năm sau đó.
Theo IDC, chi tiêu cho cơ sở hạ tầng cạnh sẽ đạt tới 18% tổng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng IoT vào năm 2020, con số này rất nhiều vì có khá nhiều cơ sở hạ tầng IoT.
Gartner dự kiến rằng đến năm 2022, 50% tất cả dữ liệu do doanh nghiệp tạo ra sẽ được tạo và xử lý bên ngoài một trung tâm dữ liệu tập trung truyền thống hoặc đám mây, bao gồm nhiều dữ liệu IoT hơn nữa (điện toán biên trải dài ngoài IoT).
Trong số các động lực chính của sự phát triển của điện toán biên trong IoT là sự gia tăng của các thiết bị IoT, quy mô ngày càng tăng của các dự án IoT, sự tràn ngập dữ liệu IoT, việc áp dụng IoT nói chung ngày càng tăng, dẫn đến áp lực lên các nguồn lực như mạng và băng thông và, có lẽ quan trọng nhất là nhu cầu phân tích dữ liệu nhanh trong vô số trường hợp sử dụng IoT.
Thông tin thêm về IoT và sự gia tăng của điện toán biên với dữ liệu, trình điều khiển và giải thích về sự khác biệt giữa sương mù và biên trong bài viết của chúng tôi về điện toán biên và IoT trong năm 2018 và hơn thế nữa thông qua nút bên dưới.IoT và điện toán biên
Công nghệ thiết bị IoT: cảm biến và thiết bị truyền động
Trước đây, chúng ta đã nói về các thiết bị được kết nối và thiết bị IoT và ‘những thứ’ trong Internet of Things.
Trong khi hầu hết mọi người nghĩ về các thiết bị IoT như đồng hồ thông minh, thiết bị gia dụng thông minh, thiết bị theo dõi thể dục, bóng đèn thông minh, hệ thống báo động thông minh và trong kinh doanh và công nghiệp, ví dụ như rô bốt và rô bốt, tài sản công nghiệp được kết nối, đèn đường thông minh hoặc điều khiển tòa nhà thông minh, Để kể tên một số, những thứ thực sự quan trọng trong IoT, bao gồm các thiết bị này, chứa một số thành phần công nghệ, giúp chúng hoạt động như được giải thích trong bài viết của chúng tôi về các lớp đầu tiên của ngăn xếp công nghệ IoT, là những thứ đó, cổng IoT (xem tiếp theo ) và các nền tảng IoT (xem tiếp) .
Rõ ràng là có rất nhiều bộ phận trong bất kỳ thiết bị IoT nào: cảm biến, thiết bị truyền động, bo mạch, ăng-ten, chip, hệ thống cơ điện tử vi mô, v.v. Chúng tôi sẽ không đi sâu như vậy và xem xét những thứ quan trọng nhất: cảm biến và thiết bị truyền động.
Cả cảm biến và thiết bị truyền động đều được gọi là bộ chuyển đổi. Một bộ chuyển đổi chuyển đổi một tín hiệu cụ thể có dạng năng lượng cụ thể thành một tín hiệu khác ở dạng năng lượng khác.
Cảm biến chuyển đổi tín hiệu trong các khu vực như nhiệt, độ ẩm, áp suất, sự hiện diện của khí, áp suất, gia tốc, v.v. thành tín hiệu kỹ thuật số được gửi đến hệ thống điều khiển và / hoặc tổng hợp dữ liệu như trung tâm hoặc cổng cảm biến. Chúng là bước khởi đầu của tất cả việc thu thập dữ liệu IoT và do đó phải chính xác. Các loại cảm biến chính xác (có hơn một trăm) tùy thuộc vào những gì bạn muốn đạt được. Trong một số trường hợp, dự án hoặc thiết bị sử dụng IoT, bạn chỉ có một vài cảm biến (trên mỗi thiết bị được kết nối) , trong những trường hợp khác, thường có hàng nghìn cảm biến.
Các thiết bị IoT – ví dụ về cảm biến và thiết bị truyền động – nguồn Bưu điện thông tin IoT và Nghiên cứu Cảng – Giấy phép CC Attribution
Dữ liệu là kết quả của việc cảm nhận và chuyển đổi bất kỳ trạng thái nhất định nào hoặc thay đổi trạng thái về nhiệt độ, sự hiện diện của khí, vị trí, v.v. thường đi từ trung tâm cảm biến hoặc cổng IoT đến đám mây hoặc trung tâm dữ liệu. Tuy nhiên, với sự chuyển động được mô tả sang rìa và các chức năng ngày càng tăng của cổng IoT và nền tảng IoT, rất nhiều quá trình chuẩn bị và xử lý dữ liệu IoT (bao gồm cả phân tích) có thể xảy ra gần với các thiết bị (rìa) hoặc trong các cổng và nền tảng được đề cập.
Thiết bị truyền động theo một nghĩa nào đó thì ngược lại với cảm biến. Họ nhận được một tín hiệu hoặc cảm thấy một lực hoặc thay đổi trạng thái (trong bối cảnh không phải IoT, đây cũng có thể là một hành động thủ công), điều này khiến họ bắt đầu chuyển động một hoạt động trong thế giới vật lý. Ví dụ như bật vòi phun nước khi phát hiện thấy nhiệt, tắt hệ thống sưởi ấm và thông gió, kích hoạt rô bốt thực hiện hành động, đưa hệ thống điều chỉnh rung động hoặc liên quan đến vị trí hoạt động, bất cứ điều gì thực sự. Cũng như có nhiều loại cảm biến, có nhiều loại cơ cấu chấp hành cho các mục đích tiềm năng khác nhau. Bộ truyền động là những gì cho phép các quyết định bán tự trị hoặc tự trị diễn ra trong phần vật lý của hệ thống vật lý mạng.
Dữ liệu nhận được bởi các thiết bị truyền động IoT có bản chất là kỹ thuật số (điện) và bao gồm một hệ thống điều khiển. Các hướng dẫn được biến thành một loại tín hiệu và năng lượng khác, từ việc bật hoặc tắt mọi thứ, cách xoay, áp suất, v.v. Thông thường, các thiết bị truyền động sau đó cũng báo cáo dữ liệu trở lại để hành động đã thực hiện được biết đến và kết hợp với dữ liệu khác, có thể được sử dụng để có thêm thông tin chi tiết, phân tích hoặc đơn giản là cảnh báo.
Sự kết hợp của các cảm biến và thiết bị truyền động thông minh là điều thực sự khiến IoT đáp ứng được nhiều ứng dụng trong cuộc sống thực.
Thông tin thêm về các thiết bị, cảm biến và bộ truyền động IoT trong bài viết đã đề cập về các lớp đầu tiên của ngăn xếp công nghệ IoT thông qua nút bên dưới.Ngăn xếp công nghệ IoT
Cổng kết nối IoT
Cổng kết nối IoT hoạt động như cầu nối giữa các ‘thứ’ của Internet vạn vật, bao gồm dữ liệu chúng tạo ra thông qua các cảm biến trên một mặt và mạng, đám mây, nền tảng IoT, trung tâm dữ liệu và cuối cùng là các ứng dụng tận dụng dữ liệu này và dữ liệu khác (tổng hợp và phân tích) , Mặt khác.
Cổng kết nối IoT đóng một vai trò quan trọng trong việc mã hóa, giải mã, xử lý trước và thậm chí là phân tích dữ liệu. Chúng hoạt động như cầu nối thông minh với nhiều loại và tính năng hơn bao giờ hết.
Cổng kết nối IoT là phần cứng, phần mềm hoặc kết hợp cả hai. Có một số loại cổng IoT theo đó các chức năng và khả năng mà chúng cung cấp như đã nói ngày càng tăng. Điều này là do ngày càng có nhiều thiết bị IoT hơn, khối lượng dữ liệu IoT ngày càng tăng và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, là sự thay đổi trong cách phân tích dữ liệu theo hướng vượt trội như đã giải thích trước đây. Nếu bạn có nhiều dữ liệu hơn và các cách phức tạp và đa dạng hơn để tận dụng nhiều dữ liệu hơn và xây dựng các dự án IoT, điều này có nghĩa là toàn bộ môi trường công nghệ của bạn thay đổi để đối phó với các khối lượng công việc IoT khác nhau ở nơi phù hợp nhất. Và do đó, các cổng kết nối IoT đang vượt ra ngoài phạm vi ban đầu của chúng như một loại bộ lọc và cầu nối giữa các thiết bị và dữ liệu IoT và một mặt là mạng, dịch vụ đám mây hoặc trung tâm dữ liệu nơi chúng thường được lưu trữ và / hoặc phân tích.
Một dạng cổng IoT ‘mới hơn’ điển hình là cổng cạnh. Điều này liên quan đến sự gia tăng đã đề cập của điện toán biên và do đó phân tích TRƯỚC đám mây, mạng hoặc trung tâm dữ liệu.
Trong thực tế, hầu hết dữ liệu IoT vẫn được phân tích trong các trung tâm dữ liệu theo nghiên cứu năm 2017. Tuy nhiên, có ít hơn một nửa số công ty thực hiện xử lý dữ liệu IoT (phân tích dữ liệu, tổng hợp dữ liệu hoặc lọc dữ liệu ở rìa) như bạn có thể đọc trong bài viết này về tác động của IoT đối với cơ sở hạ tầng CNTT . Và điều này có tác động đến các cổng kết nối IoT.
Xin lưu ý rằng có nhiều loại cổng IoT khác nhau tùy thuộc vào lý do tại sao chúng được sử dụng và / hoặc ngành . Bạn có thể tìm thấy các cổng kết nối IoT trong các máy bán hàng tự động thông minh, trong các ứng dụng tự động hóa gia đình (tổng hợp và điều phối thông tin liên lạc dữ liệu giữa các thiết bị và cảm biến trong nhà thông minh và mặt khác là các dịch vụ đám mây) , cho các cổng IoT công nghiệp (IIoT), v.v.
Tìm hiểu thêm về các cổng IoT thông qua nút bên dưới, nơi bạn cũng tìm thấy các hình ảnh tiên tiến hơn so với ở trên và nhiều sự phát triển hơn trong bối cảnh của các cổng IoT và IIoT.Cổng IoT và IIoT
Kết nối và công nghệ mạng
Đã đến lúc xem xét khía cạnh kết nối Internet of Things. Để truyền dữ liệu giữa các thiết bị và từ thiết bị đến nền tảng, đám mây hoặc bất kỳ điểm đến nào khác, cần phải có các công nghệ mạng.
Trong một số ứng dụng, chẳng hạn như trong các giải pháp nhà thông minh, điều này tương đối dễ dàng vì có một số giải pháp kết nối chung và một số giải pháp kết nối độc quyền trong các trường hợp sử dụng thường khá đơn giản.
Kết nối theo truyền thống được chia thành các giải pháp cho PAN (Mạng khu vực cá nhân), LAN (Mạng cục bộ), WAN (Mạng khu vực rộng), MAN (Mạng khu vực đô thị) và (ít hơn) trong NAN (Mạng khu vực lân cận).
Đây là những khái niệm chúng ta biết về mạng máy tính nói chung từ khá lâu. Để kết nối từ PAN đến mạng LAN và mạng WAN hoặc, giả sử Internet, bạn cần có cổng kết nối.
Mạng Internet of Things và kết nối trong quá trình phát triển
Ngày nay, các giải pháp kết nối khác nhau cho phép làm điều đó nhưng trong quá khứ không xa bạn cần điện thoại thông minh, mạng di động và các giải pháp khác không dành cho IoT không đảm bảo đủ an toàn hoặc chất lượng.
Sự trỗi dậy của các công ty LPWAN như Semtech (LoRA), Sigfox, v.v. cần được nhìn nhận từ góc độ đó, theo đó trọng tâm là có đủ băng thông, tiêu thụ điện năng thấp, v.v. với giá rẻ hơn khả năng hiện có. Xây dựng các mạng cụ thể, trong số những mạng khác, điều đã làm nên thành công của các giải pháp LPWAN không di động.
Ngày nay, cảnh quan đó tiếp tục phát triển và thay đổi. Các tiêu chuẩn 3GPP mới, sự chuyển đổi sang 4G LTE trong ngành và hơn thế nữa là một số trong những sự phát triển này. Các giao thức và công nghệ IoT không dây dự kiến sẽ trở nên quan trọng hơn trong lớp mạng IoT nói chung. Tuy nhiên, nó đang và vẫn là một thực tế không ngừng thay đổi.
Chuyển sang nhiều kết nối Internet of Things không dây hơn và các công nghệ mạng không dây
Trong số các lý do tại sao công nghệ mạng không dây trở nên quan trọng hơn là tính linh hoạt của chúng so với mạng có dây.
Đó là những gì Nicolas Windpassinger, tác giả của cuốn sách Internet of Things ‘Số hóa hay chết’ nói. Nếu chúng ta xem xét nhiều giao thức không dây và công nghệ mạng, Nicolas phân loại chúng thành năm loại, theo đó anh ta lấy phạm vi của chúng làm điểm xuất phát. Rõ ràng, các công nghệ khác nhau trong năm phân đoạn lớp mạng IoT không dây mà ông đại diện trực quan trong đồ họa thông tin bên dưới và khám phá thêm trong cuốn sách của mình có các phạm vi khác nhau và các đặc điểm khác nhau ở các cấp độ khác như tốc độ dữ liệu và hơn thế nữa.
Để phân loại một số công nghệ và giao thức không dây ở cấp độ mạng, Nicolas loại bỏ một trong các loại mạng đã đề cập trước đó và cũng bổ sung một loại: mạng lân cận hoặc mạng khu vực cơ thể, một phân đoạn ngày càng quan trọng, chắc chắn là nền tảng thứ 4 sắp ra mắt.
Nicolas phân loại nhiều giao thức và công nghệ Internet of Things không dây như sau:
Mạng vùng lân cận hoặc mạng khu vực xung quanh : Truyền thông trường gần và RFID.
PAN không dây : từ Bluetooth và Zigbee đến Z-Wave, Enocean và WirelessHART, để đặt tên cho một số.
Mạng LAN không dây : các hương vị khác nhau của Wi-Fi, bao gồm Wi-Fic HaLow được giới thiệu bởi Wi-Fi Alliance cho các mục đích IoT và DASH7.
NAN không dây : Wi-SUN và JupiterMesh.
WAN không dây : bất kỳ LPWAN nào, từ LPWA không di động (Sigfox, LoRa, v.v.) đến các công nghệ và tiêu chuẩn di động trong không gian 2G, 3G và 4G và hơn thế nữa.
Các giao thức và công nghệ mạng IoT không dây – nguồn và bản quyền Sách Digitize or Die IoT
Mạng Internet of Things và kết nối thay đổi trong IoT công nghiệp
Trong Internet of Things công nghiệp, phần lớn các mạng liên quan đến kết nối đường dây cố định như DSL, modem cáp, Ethernet và PSTN.
Tuy nhiên, ở đây cũng như bức tranh đang phát triển. Theo ABI Research, ví dụ, một phần tư tổng số kết nối IIoT mới sẽ là không dây, theo đó LPWA dự kiến sẽ là công ty phát triển nhanh nhất cho đến năm 2021 và có sự thay đổi trong lĩnh vực không dây từ 2G sang 4G LTE.
Hầu hết các trường hợp Internet of Things yêu cầu một số công nghệ kết nối
Trong nhiều trường hợp và ví dụ sử dụng Internet of Things, tiên tiến hơn, thực tế là cần có sự kết hợp của các công nghệ kết nối.
Một lần nữa, mọi thứ phụ thuộc vào bối cảnh và cung cấp rất rộng lớn: từ mạng cố định và mạng IP không dây đến mạng khu vực cá nhân không dây tốc độ thấp, giải pháp không dây diện rộng công suất thấp và thậm chí cả vệ tinh; có một (hỗn hợp) (các) giải pháp kết nối cho mọi trường hợp.
Hơn nữa, trong mỗi loại giải pháp kết nối thường có nhiều người chơi khác nhau, mỗi người có đặc điểm và thông số kỹ thuật riêng.
Ví dụ: trong kết nối diện rộng năng lượng thấp (LPWA), được sử dụng trong các ứng dụng cần thời lượng pin dài, có nhu cầu dữ liệu hạn chế và phải bao phủ một khu vực rộng hơn, có một số phi di động (nằm ngoài phạm vi phổ di động được cấp phép ) các diễn viên trong đó LoRA, Sigfox, Ingenu và Weightless (SIG) là một trong những diễn viên được biết đến nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng có các giải pháp di động mới hơn (phổ được cấp phép của các nhà khai thác di động) với nhiều hình thức và hương vị khác nhau: NB-IoT (NarrowBand IoT hoặc CAT-NB1), LTE-M (CAT-M1), v.v. Trong không gian di động, chúng ta cũng cần đề cập đến 5G, cũng như 3G, v.v. như bạn sẽ thấy trong ví dụ bên dưới. Sự đa dạng tương tự cũng xảy ra đối với các giải pháp kết nối trong điều kiện phạm vi ngắn, v.v.
Đó là lý do tại sao một số nhà cung cấp giải pháp CNTT, nhà khai thác viễn thông, v.v. trong thực tế cung cấp kết hợp các giải pháp kết nối để cho phép khách hàng của họ tận dụng Internet of Things cho các nhu cầu cụ thể của họ.
Câu đố về kết nối IoT ngày càng được chuẩn hóa hơn nhưng nó không trở nên dễ dàng hơn khi các công nghệ và tiêu chuẩn mới như phiên bản Bluetooth mới (Bluetooth 5, Bluetooth MESH), các giải pháp di động di động mới, các dạng Wi-Fi khác, v.v. đã có hệ sinh thái rộng lớn với tất cả các loại giải pháp kết nối, dựa trên các tiêu chuẩn khác nhau được sử dụng trong một ngữ cảnh cụ thể, chẳng hạn như Zigbee (xem ví dụ bên dưới), Z-Wave và nhiều hơn nữa, bao gồm các phương pháp tiếp cận dành riêng cho nhà cung cấp, chắc chắn là trong ngôi nhà thông minh không gian.
Điều quan trọng cần biết là không có một kích thước phù hợp với tất cả các giải pháp trong bất kỳ loại kết nối nào: trường hợp sử dụng và ứng dụng thúc đẩy nhu cầu.LPWAN
Một ví dụ về kết nối IoT trong thực tế: kết hợp Zigbee và 3G để giám sát chất lượng không khí di động
Đây là một ví dụ về lý do tại sao bạn thường cần nhiều loại kết nối khác nhau trong thực tế.
Chúng tôi đã đề cập đến một ví dụ về trường hợp IoT trong lĩnh vực giám sát chất lượng không khí, theo đó các phương tiện di chuyển xung quanh để bổ sung dữ liệu chất lượng không khí từ các hệ thống cố định trước đây.
Nếu bạn xem xét các giải pháp kết nối được sử dụng trong trường hợp, bạn sẽ thấy hai loại kết nối.
Một là Zigbee , một trong những giải pháp kết nối được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn 802.15.4 cho các mạng khu vực cá nhân không dây tốc độ thấp. Như hình ảnh chỉ ra trong trường hợp này, nó được sử dụng để gửi dữ liệu môi trường ‘cảm nhận được’ trong hộp trên đầu xe van đến một trung tâm cảm biến trong hộp đựng găng tay của xe.
Thứ hai là 3G , tiêu chuẩn di động, được sử dụng để gửi thông tin thu thập được lên đám mây và ứng dụng mà nó cung cấp.
Và chúng tôi thậm chí có thể thêm một công nghệ khác: GPS (cho phép theo dõi). Bạn hiểu rằng trường hợp càng phức tạp (hãy nghĩ về các ứng dụng công nghiệp quy mô lớn), thì càng có thể cần nhiều giải pháp kết nối khác nhau.
Tương lai: 5G và Internet of Things
Kể từ một vài năm, có một cuộc đua 5G thực sự đang diễn ra. 5G là thế hệ di động di động tiếp theo sau 4G và đi kèm với một kiến trúc khác và tốc độ truyền dữ liệu cao hơn nhiều, đồng thời cung cấp loại băng thông cần thiết cho các luồng thực tế ảo trực tiếp và các phương tiện tự hành.
Các thông số kỹ thuật cuối cùng của 5G sẽ sẵn sàng vào cuối năm 2019 nhưng đã có một số công ty IoT công nghiệp lớn đang xem xét các khả năng và áp dụng 5G như là trung tâm của một môi trường mạng không đồng nhất. 5G không được thiết kế cho IoT, nó được thiết kế cho kết nối phổ biến với tốc độ dữ liệu trong phạm vi gigabit / giây.
Mặc dù người ta dự kiến rằng 5G sẽ chỉ trở thành xu hướng chủ đạo vào cuối thập kỷ tới và thập kỷ sau đó, những lời hứa và kỳ vọng sẽ được sử dụng, cả trong và cho IoT.
Theo công ty nghiên cứu IDC, việc hỗ trợ rộng rãi các trường hợp sử dụng IoT nhờ 5G vào năm 2021 sẽ thúc đẩy 70% trong số 2000 công ty đại chúng lớn nhất trên toàn cầu chi 1,2 tỷ đô la cho các giải pháp quản lý kết nối. Tiềm năng thị trường của 5G là rất lớn cũng như những khả năng mà nó mang lại, xác định lại khái niệm di động và thúc đẩy kết nối phổ biến của IoT.
5G không chỉ là về tốc độ truyền dữ liệu cao hơn, nó còn là về độ tin cậy, độ trễ và những gì được gọi là máy tính không viền.
Nền tảng Internet of Things
Để xây dựng giải pháp Internet of Things, cần có các thành phần khác nhau. Có các thiết bị được kết nối hoặc được gắn thẻ, được trang bị khả năng cảm biến và dữ liệu. Có thách thức về kết nối mà chúng tôi vừa giải quyết, có câu hỏi về phân tích. Bạn cần một chiến lược. An ninh không thể là một suy nghĩ sau. Danh sách cứ kéo dài.
Một thành phần khác ngày càng trở nên quan trọng là nền tảng IoT. Thuật ngữ này được sử dụng cho nhiều loại nền tảng nhưng chúng tôi xem xét cái gọi là Nền tảng hỗ trợ ứng dụng IoT, nền tảng IoT thực sự là gì. Chúng kết hợp nhiều chức năng trong một giải pháp phần mềm và được cung cấp bởi hàng trăm nhà cung cấp, bao gồm cả những công ty lớn như Amazon, Microsoft, SAP và IBM.
Nền tảng IoT đặc biệt quan trọng trong các thị trường doanh nghiệp và có nhiều loại và nhiều hình dạng. Theo IDC (dữ liệu ngày 1 tháng 11 năm 2017) vào cuối năm 2020, gần một nửa số ứng dụng IoT mới sẽ được các doanh nghiệp xây dựng sẽ tận dụng nền tảng IoT cung cấp chức năng tập trung vào kết quả, dựa trên khả năng phân tích toàn diện.
Trong năm 2017, thị trường dự kiến sẽ tăng 116% như bạn có thể thấy bên dưới. Người ta cũng dự báo rằng nhiều tổ chức lớn đang quyết định lựa chọn một nền tảng IoT đáp ứng nhu cầu của họ trong năm 2018 và 2019, do đó, sự tăng trưởng chắc chắn vẫn chưa kết thúc. Thực tế là các nền tảng IoT quan trọng đến mức có rất nhiều tổ chức đang chuẩn bị mua hàng vào năm 2018 và 2019 và các dự án IoT quy mô lớn đang gia tăng có tác động quan trọng đến thị trường của các nhà cung cấp nền tảng IoT. Một số công ty, chẳng hạn như Hitachi Vantara, thậm chí đã thiết kế lại chiến lược IoT của họ vào năm 2017, theo đó việc tham gia vào thị trường nền tảng IoT là một động lực thiết yếu.
Một số rút ra từ báo cáo thị trường nền tảng IoT năm 2017 đã đề cập
Dữ liệu mở và khả năng tương tác càng trở nên quan trọng hơn.
Tăng trưởng nền tảng IoT vẫn rất lớn với con số hai chữ số cao cho đến ít nhất là năm 2025.
Các động lực chính để có được nền tảng Internet of Things là phát triển và triển khai tốt hơn, nhanh hơn và rẻ hơn.
Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến các nền tảng IoT mã nguồn mở.
Thị trường sẽ trải qua giai đoạn củng cố khi các nhà cung cấp gấp rút đưa ra các giải pháp hoàn thiện hơn, điều này cũng có thể được tận dụng trong các tình huống ngành dọc.
Nền tảng IoT có nhiều dạng và hình dạng. Trên các nền tảng IoT chung và ngang hơn, có các nền tảng IoT chuyên biệt cho các ứng dụng và trường hợp sử dụng hướng đến người tiêu dùng cụ thể, cho các trường hợp sử dụng trong các lĩnh vực như quản lý tòa nhà và tối ưu hóa cơ sở, quản lý năng lượng, dầu khí, giao thông vận tải, tiện ích, sản xuất và các ứng dụng công nghiệp khác ( nền tảng IoT công nghiệp hoặc IIoT ) và trong số đó ngày càng tăng cho các ứng dụng tiên tiến ( nền tảng IoT cạnh ) , cho ngành dọc như thành phố thông minh ( nền tảng IoT thành phố thông minh ) , v.v.Nền tảng IoT
Internet of Things và IPv6
Internet of Things và IPv6 luôn song hành với nhau. IPv6 (IP là viết tắt của Internet Protocol) là một bước quan trọng trong sự phát triển của Internet và Internet of Things.
IPv6 cho phép 100 địa chỉ Internet có thể có cho mọi nguyên tử trên bề mặt Trái đất
Chúng ta đang nói về điều gì vậy? Một thực tế đã được biết đến là trong nhiều năm, số lượng địa chỉ IPv4 có sẵn không còn đủ nữa. Khi Internet tiếp tục phát triển và với sự gia tăng của Internet of Things, IPv6 về cơ bản đảm bảo rằng chúng ta không hết địa chỉ IP (cũng cần thiết trong IoT) và sự phát triển của Internet không dừng lại. Với IPv4, địa chỉ IP sẽ trở nên khan hiếm với tất cả các hệ quả cần thiết.
Nói một cách đơn giản, IPv6 đảm bảo rằng tất cả mọi thứ, cho dù nó liên quan đến tất cả những thứ Internet ‘truyền thống’ ngoài kia hay nhiều thiết bị trong Internet of Things, sẽ có địa chỉ IP của chúng. Tại sao? Chà, phiên bản mới nhất của giao thức Internet, v6, chỉ đơn giản là cho phép nhiều địa chỉ IP hơn và do đó cho phép xác định, vị trí và giao tiếp của nhiều thiết bị hơn trên Internet.
Phép toán: IPv4 phù hợp với hơn hoặc ít hơn 4,3 tỷ địa chỉ (đó là 32-bit), IPv6 (128-bit) cho phép 340.282.366.920.938.463.463.374.607.431.768.211.456 địa chỉ internet có thể có hoặc 100 cho mỗi nguyên tử trên bề mặt Trái đất như BT của Tim Rooney đã tính toán .
Wikipedia có một cái nhìn tổng quan khá tốt về các thách thức khác nhau và các dữ kiện khác liên quan đến IPv4 và IPv6 trong trường hợp bạn quan tâm.
Internet of Things và Internet of Services
Theo nhiều cách, Internet of Things thực sự là một Internet of Services, không chỉ liên quan đến các dịch vụ mà các tổ chức cần cho các dự án Internet of Things mà họ muốn hiện thực hóa mà còn trong bối cảnh các mục tiêu của việc triển khai như một dịch vụ các bên liên quan và nền kinh tế dịch vụ
Ngày càng có nhiều nhu cầu về dịch vụ Internet of Things của các tổ chức. Ngày nay, nhiều dự án Internet of Things, chắc chắn là trong Industrial Internet of Things, xoay quanh tự động hóa quy trình và phân tích dữ liệu.
Ngoài ra còn có nhu cầu về các dịch vụ Internet of Things trong các lĩnh vực khác ngoài các dịch vụ xoay quanh tự động hóa, quản lý thông tin và phân tích dữ liệu. Và trong bối cảnh, ví dụ, nhà thông minh, thành phố thông minh và chăm sóc sức khỏe thông minh, cần có các dịch vụ chuyên khoa. Trong thực tế và trong các dự án lớn, nhiều nhà cung cấp dịch vụ thậm chí cần cộng tác vì bạn không thể là chuyên gia trong mọi việc. Hợp tác là chìa khóa.
Internet of Things vẫn là một cơn ác mộng bảo mật mặc dù người ta cần phải khác biệt và không khái quát hóa mà nên xem xét các trường hợp khác nhau.
Tuy nhiên, cả trong các ứng dụng tiêu dùng và ứng dụng công nghiệp, có rất nhiều câu hỏi cần được giải quyết.
Cả bộ điều khiển dữ liệu và bộ xử lý dữ liệu cũng có một số nhiệm vụ liên quan đến việc bảo vệ và bảo mật dữ liệu cá nhân khi chúng được xử lý trong các dự án IoT theo quy định mới. Hơn nữa, ngày càng có nhiều quy tắc tuân thủ pháp lý và quy định, theo đó không chỉ dữ liệu cá nhân được bảo vệ mà còn ở nơi mà IoT và các công nghệ mới nổi được quy định và bảo mật cũng chiếm vị trí trung tâm.
Bảo mật là một thách thức trong Internet vạn vật tiêu dùng và công nghiệp
Không gian IoT dành cho người tiêu dùng có lẽ được nói đến nhiều nhất từ quan điểm bảo mật vì có một số vấn đề và do những lo ngại về bảo mật ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường.
Khi Accenture xem xét sự chậm lại của thị trường điện tử tiêu dùng tại Triển lãm Điện tử Tiêu dùng 2016, công ty nhận thấy rằng để thu hẹp khoảng cách giữa tốc độ tăng trưởng đang giảm dần của thị trường điện tử tiêu dùng và giai đoạn tăng trưởng tiếp theo, dự kiến sẽ được thúc đẩy bởi các ứng dụng tiêu dùng trong không gian IoT và thiết bị đeo được, các nhà cung cấp cần giải quyết những thách thức bảo mật này.
Nhiều thách thức bảo mật liên quan đến Internet of Things không chỉ trong lĩnh vực điện tử tiêu dùng. Trong các ứng dụng kinh doanh, các thách thức bảo mật của thực tế Internet of Things siêu kết nối ít nhất là cao, chưa kể đến tác động đến cơ sở hạ tầng CNTT và khả năng dữ liệu.
Tội phạm mạng gặp Internet of Things
Các thiết bị được kết nối và Internet of Things ngày càng được sử dụng nhiều hơn cho các cuộc tấn công quy mô lớn.
Một số cuộc tấn công DDoS đã được báo cáo trong suốt năm 2016, bao gồm cả cuộc tấn công DDoS lên tới 620 Gbps đã khiến trang web của nhà báo bảo mật nổi tiếng Bryan Krebs bị sập vào cuối tháng 9 năm 2016. Cuộc tấn công nhận được rất nhiều sự chú ý, cũng bởi vì nó có liên quan đến các các vấn đề như tự do ngôn luận (Krebs bị tin tặc tấn công sau khi vạch trần một mạng lưới tin tặc cho thuê, cuộc tấn công dữ dội đến mức Akamai phải ngừng bảo vệ trang web của Kreb trước các cuộc tấn công DDoS và Google đưa trang web vào Project Shield của mình).
Người ta lo sợ rằng những cuộc tấn công như vậy sẽ sớm trở thành tiêu chuẩn. Và nó không chỉ là về các cuộc tấn công DDoS. Ransomware cũng đang chuyển sang Internet of Things và các chuyên gia bảo mật cảnh báo về tác động của các lỗ hổng bị khai thác trong thực tế được kết nối mà IoT đang có. Ngoài những thách thức về bảo mật, sự tuân thủ và quyền riêng tư dữ liệu cũng cần được giải quyết.
Rủi ro về bảo mật của Internet of Things
Trong Internet of Things, các cảm biến giao tiếp với nhau và thông qua các cổng kết nối với nền tảng Internet of Things, các ứng dụng khác nhau của công ty được cung cấp và kích hoạt.
Rõ ràng một nền tảng như vậy cần phải được bảo mật cao cũng như giao tiếp giữa các cảm biến, cổng và nền tảng.
Một số khía cạnh của mối quan tâm về bảo mật của Internet of Things
Các lỗ hổng trong thiết bị.
Các thủ tục khó hoặc không tồn tại để vá các thiết bị IoT.
Ban giám hiệu thiếu nhận thức và hỗ trợ.
Tập trung quá nhiều vào việc tiết kiệm chi phí trong các dự án Internet of Things và không đầu tư vào các biện pháp kiểm soát an ninh thiết yếu.
Không đủ sự chú ý cho bảo mật nói chung và cho ‘chu vi của mọi thứ’, điều đơn giản là cần thiết trong Internet of Everything.
Thiếu tiêu chuẩn hóa giữa các mạng và giao diện lập trình ứng dụng (API).
Thiết bị cũ và nhà cung cấp giả mạo.
Giáo dục và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng.
Tiêu chuẩn hóa và giao thức (mặc dù những nỗ lực nghiêm túc đang được thực hiện).
Các ưu tiên và sự phát triển về bảo mật của Internet of Things
Trước khi bắt tay vào hành trình dự án Internet of Things, điều quan trọng là phải nhận ra rằng bảo mật không phải là vấn đề sau cùng và là một phần cuối cùng của bất kỳ chiến lược kỹ thuật số nào.
Nhiều chuyên gia bảo mật doanh nghiệp IoT vẫn không giám sát các thiết bị IoT trong thời gian thực, một tình hình dự kiến sẽ thay đổi trong suốt năm 2017 và 2018 khi bảo mật được chú ý nhiều hơn và nền tảng Internet of Things với giám sát thiết bị IoT được tận dụng nhanh chóng.
Những diễn biến và sự thật khác mà bạn có thể mong đợi ở cấp độ bảo mật của Internet of Things bao gồm:
Các vi phạm tiếp tục xảy ra khi các công ty trong ngành đẩy mạnh tốc độ bảo mật để trở thành đối tác đáng tin cậy.
Các mối đe dọa phức tạp hơn và việc sử dụng phức tạp hơn các thiết bị đã có sẵn và cần một giải pháp khẩn cấp.
Có thể xảy ra sự chậm trễ trong việc tiếp nhận Internet of Things của Người tiêu dùng.
Những thay đổi trong hệ sinh thái được sử dụng để triển khai các dự án Internet of Things.
Một sự lựa chọn ngày càng tăng cho các tùy chọn kết nối an toàn nhất, tùy thuộc vào trường hợp sử dụng.
Các cách khác nhau để xử lý dữ liệu và bảo mật các điểm cuối nơi dữ liệu được tạo ra.
Các tổ chức sẽ đầu tư nhiều hơn vào việc khám phá, giới thiệu và giám sát thiết bị để có được khả năng hiển thị và có thể giám sát thời gian thực.
An ninh và Internet vạn vật công nghiệp
Internet vạn vật công nghiệp và sự tích hợp của CNTT và OT đi kèm với những thách thức bảo mật cụ thể, cũng như nhiều trường hợp sử dụng IIoT và các yếu tố công nghệ / con người vốn điển hình trong Internet công nghiệp.
An ninh mạng là một trong những lý do chính làm chậm việc áp dụng Internet of Things (IIoT) công nghiệp. Kiểm tra các diễn biến, thách thức và giải pháp với các tài nguyên bổ sung trên IIoT và bảo mật.
Nghiên cứu về Internet vạn vật và an ninh mạng công nghiệp năm 2017 – đọc thêm tại đây – nguồn
Sự gia tăng của các khoản đầu tư về bảo mật IoT và an toàn IoT
Bảo mật IoT hiện đang được chú ý nhiều đến mức nó được cho là sẽ tạm thời có tác động đến mức tăng năng suất IoT của các công ty khi họ được thúc đẩy và sẵn sàng đầu tư nhiều hơn vào bảo mật.
Hơn nữa, các quy định sẽ được đưa ra khi chúng tôi giải quyết tiếp theo và không chỉ các công ty triển khai các dự án IoT đang đầu tư nhiều hơn vào bảo mật. Toàn bộ hệ sinh thái IoT với các nhà sản xuất phần cứng, nhà cung cấp giải pháp và nhà tích hợp chắc chắn đang tìm kiếm – và trong một số trường hợp – buộc phải xem xét bảo mật ở mức độ cao hơn.
Ngoài vấn đề an ninh, còn có câu hỏi về an toàn vật lý như đã đề cập. Một số công nghệ, chẳng hạn như blockchain, cũng được xem là cách để cung cấp IoT đáng tin cậy và đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, tất nhiên, bảo mật IoT không chỉ bao gồm dữ liệu hoặc giao dịch.
Nó đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể đó. Theo dữ liệu ngày 1 tháng 11 năm 2017 từ IDC trong 10 dự đoán hàng đầu về IoT 2018 trên toàn thế giới, công ty tuyên bố rằng vào năm 2020, các mối quan tâm tiềm ẩn về an ninh mạng và an toàn vật lý liên quan đến các thiết bị IoT sẽ gây áp lực buộc các CIO tại 2000 công ty đại chúng lớn nhất thế giới phải tăng chi tiêu về bảo mật IoT lên đến 25%, điều này giải thích cho việc tạm thời vô hiệu hóa mức tăng năng suất kinh doanh được đề cập.
Internet of Things và các quy định
Khi dữ liệu đã trở thành một tài sản kinh doanh quan trọng trong nền kinh tế chuyển đổi kỹ thuật số và Internet of Things, cũng như nhiều công nghệ liên quan, xoay quanh dữ liệu được kết nối và cách nó được tận dụng, các khuôn khổ quy định mới được lên kế hoạch và / hoặc triển khai. Điều này chắc chắn liên quan đến các mối quan tâm về bảo mật, trong số những vấn đề khác về mức độ bảo mật dữ liệu và rủi ro bảo vệ dữ liệu .
Internet of Things tận dụng dữ liệu cá nhân trong một số trường hợp sử dụng. Hãy nghĩ về ô tô không người lái, thiết bị đeo được cho các ứng dụng tư nhân hoặc chăm sóc sức khỏe, viễn thông trong bảo hiểm, IoT và tiếp thị, ngôi nhà thông minh, danh sách này là vô tận.
Internet of Things, GDPR và Quy định về quyền riêng tư điện tử
Việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, với các khoản tiền phạt đáng kể có thể xảy ra trong trường hợp vi phạm và không tuân thủ, là nền tảng của Quy định chung về bảo vệ dữ liệu hoặc GDPR.
Sự ngờ vực liên quan đến sự đồng ý rõ ràng và các hoạt động thu thập thông tin đã bắt đầu ở cấp độ của các nhà sản xuất Internet of Things
Quy định này của Liên minh Châu Âu ảnh hưởng đến tất cả các tổ chức xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Liên minh Châu Âu (‘chủ thể dữ liệu’ có quyền chủ thể dữ liệu ngày càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết) , bất kể tổ chức đó cư trú thực tế ở đâu hay quá trình xử lý được thực hiện. Nói cách khác: điều quan trọng là phải chuẩn bị cho việc tuân thủ GDPRnói chung mà còn liên quan đến Internet of Things. Tại sao? Bởi vì với Internet of Things có một loạt các công nghệ, thiết bị, trường hợp sử dụng, ứng dụng và quy trình khá cụ thể và bị bỏ qua một cách đáng kinh ngạc. Nếu bạn CÓ hoặc KẾ HOẠCH triển khai dự án Internet of Things liên quan đến dữ liệu cá nhân của công dân EU theo bất kỳ cách nào, bạn PHẢI biết GDPR và sẵn sàng cho nó. Trong phạm vi các dự án IoT với xử lý dữ liệu cá nhân, đặc biệt hãy xem xét liệu bạn có thể cần đánh giá tác động bảo vệ dữ liệu hay không .
Một phần luật thứ hai , cũng ở EU, sẽ tác động đến những gì có thể và không thể thực hiện với Internet of Things là Quy định về quyền riêng tư điện tử . Văn bản này hiện tại vẫn chưa phải là cuối cùng nhưng một khi có nó sẽ có những hậu quả đáng kể vì nó bao gồm quyền riêng tư trên các kênh liên lạc điện tử và văn bản dự thảo đề cập rõ ràng đến Internet of Things.
Internet of Things và quy định: nhận thức là rất quan trọng, tuân thủ sẽ thúc đẩy thị trường
Khi các khu vực khác và các ngành dọc cụ thể sắp phải đối mặt với các quy định liên quan đến IoT và các công nghệ liên quan, nhận thức, chuẩn bị và thông tin là rất quan trọng.
Việc này rất mất công nhưng chúng tôi đã viết một hướng dẫn về Internet of Things trong phạm vi GDPR và quy định về quyền riêng tư điện tử sẽ được cập nhật khi các luật và quy định khác được bổ sung, để giúp bạn bắt đầu. Ví dụ, cũng có những ý định điều chỉnh robot và AI.
Về mặt tích cực (và bảo mật hay tránh vi phạm dữ liệu không thể là điều cần nghĩ đến trong bất kỳ dự án Internet of Things nào), những thay đổi về quy định cũng sẽ thúc đẩy việc áp dụng Internet of Things trong cả ứng dụng tiêu dùng và doanh nghiệp / ngành, nơi dữ liệu, quyền riêng tư và bảo mật vẫn là những thách thức quan trọng như bạn có thể đọc trong phần trước về bảo mật và Internet vạn vật công nghiệp bởi vì đây là vấn đề: không có sự tin tưởng thì không có gì xảy ra.IoT và quy định: GDPR, ePrivacy và hơn thế nữa
Công nghệ sổ cái phân tán: blockchain và Internet Of Things
Các ứng dụng Internet of Things và blockchain (hoặc công nghệ sổ cái phân tán) dự kiến sẽ song hành với nhau.
Vì cả hai đều được phân phối và blockchain được hình thành cho các ứng dụng liên quan đến giao dịch và tương tác với các hình thức hợp đồng mới như những lợi ích khác, nên công nghệ đằng sau blockchain có thể đóng vai trò là cơ sở để lưu giữ sổ cái của các thiết bị IoT, cách thức / những gì chúng giao tiếp và dữ liệu về trạng thái của chúng.
Công nghệ sổ cái phân tán (công nghệ về cơ bản là đằng sau ‘chuỗi khối’ cung cấp năng lượng cho Bitcoin nhưng có thể được sử dụng vì nhiều lý do khác) được coi là một cách để tăng cường sự tuân thủ trong Internet of Things.
Tuy nhiên, các dấu vết về trách nhiệm giải trình và kiểm toán nhờ vào việc sử dụng công nghệ sổ cái phân tán, tuy nhiên, không phải là lợi ích duy nhất của sự hội tụ của blockchain và Internet of Things.
Trong một đồ họa thông tin, IBM đề cập đến 3 lợi ích chính của việc sử dụng blockchain cho Internet of Things:
Ba lợi ích chính của việc sử dụng blockchain cho IoT theo IBM – nguồn
Internet of Things, trí tuệ nhân tạo và máy học
Trước đây chúng tôi đã đề cập đến cách sự hội tụ của IoT, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn mở ra cánh cửa cho các công nghệ thế hệ tiếp theo. Chúng bao gồm các ứng dụng mới trong công nghệ trực quan hóa và Giao diện Điện toán Não bộ.
Tuy nhiên, trí tuệ nhân tạo và nhận thức chắc chắn sẽ đóng một vai trò ngày càng tăng trong IoT. Đây là trường hợp của nhiều lĩnh vực và vì nhiều lý do. Dưới đây là một số.
Khi chúng ta chuyển sang các quyết định tự chủ ở vị trí tiên tiến trong nhiều thị trường công nghiệp như không gian quản lý tòa nhà , AI chắc chắn sẽ trở thành một nhu cầu cần thiết. Tương tự đối với các lĩnh vực như Internet of Robotic Things, các quy trình tự quản trong sản xuất và Công nghiệp 4.0, danh sách vẫn tiếp tục.
Sự gia tăng của dữ liệu IoT và nhân rộng các nguồn dữ liệu nói chung trong các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe và khoa học đời sống, nói chung, dẫn đến một đợt lở dữ liệu, theo đó chỉ có AI mới có thể giúp hiểu được tất cả dữ liệu này và biến IoT và dữ liệu cảm biến thành trí thông minh có thể hành động. Trên thực tế, AI là cách duy nhất để hiểu dữ liệu phi cấu trúc bắt đầu và được tận dụng trong nhiều ứng dụng hơn bao giờ hết nơi dữ liệu phi cấu trúc đáp ứng được sự tham gia. Nếu chúng ta so sánh khối lượng dữ liệu tuyệt đối ngày nay với những gì IoT vẫn sắp bổ sung thì hậu quả là rõ ràng.
Cũng giống như trường hợp của các lĩnh vực sử dụng nhiều dữ liệu khác và thậm chí hơn thế nữa trong IoT, AI là cách duy nhất để chuyển từ dữ liệu sang giá trị hữu hình trong một đại dương thông tin được cảm nhận, gửi, phân tích và tận dụng bằng phân tích ở rìa nhiều ứng dụng công nghiệp.
Có nhiều lĩnh vực hội tụ và hợp tác hơn giữa một mặt là trí tuệ nhân tạo và máy học và mặt khác là IoT nhưng rõ ràng là AI và IoT chỉ đơn giản là song hành trong vô số ứng dụng. Điều này cũng được hiểu bởi các giám đốc điều hành. Theo ấn bản 2017-2017 của IoT Barometer được đề cập trước đó , IoT sẽ không chỉ trở nên tích hợp hơn mà còn thúc đẩy việc áp dụng trí tuệ nhân tạo trong khi làm như vậy. Đa số các giám đốc điều hành (79%) đồng ý rằng trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2022, hơn một nửa số tổ chức sẽ sử dụng trí tuệ nhân tạo và máy học để hiểu dữ liệu IoT.
Nếu chúng ta xem xét các dự báo liên quan đến thị trường trí tuệ nhân tạo và hệ thống nhận thức, vốn đã sẵn sàng đạt 57,6 tỷ đô la vào năm 2021 theo dữ liệu tháng 9 năm 2017 từ IDC, có một câu thú vị từ giám đốc nghiên cứu David Schubmehl ở cuối thông cáo báo chí đã đóng đinh cho chúng tôi: “Chúng tôi đang thấy công nghệ và giải pháp nhận thức và AI len lỏi vào một loạt các ứng dụng và trường hợp sử dụng ngày càng rộng lớn hơn”.
IoT trong bối cảnh kinh doanh: bán / hiện thực hóa trường hợp sử dụng và kết quả
Mặc dù IoT quan trọng rất nhiều, nhưng điều quan trọng cần nhớ là thông thường các doanh nhân không nói về Internet of Things với sếp của họ trong phạm vi công việc và kế hoạch dự án của họ. Nếu họ làm vậy, tốt nhất nên dừng nó lại trừ khi CEO và CFO là chuyên gia CNTT.
Các giám đốc điều hành kinh doanh thường thậm chí không nói về các trường hợp sử dụng theo các thuật ngữ… khác, chẳng hạn như thành phố thông minh hoặc mạng lưới thông minh. Cuối cùng, họ biết rằng họ cần phải chuyển đổi kỹ thuật số, rằng Internet of Things là một công cụ thay đổi cuộc chơi thực sự đột phá nhưng công việc của họ là giải quyết các thách thức, đổi mới và tối ưu hóa chức năng của các hoạt động và mục tiêu. Nói một cách đơn giản: một số giám đốc điều hành LOB sẽ cố gắng bán một dự án IoT cho CEO và không có nhiều người cố gắng thuyết phục hội đồng quản trị hoặc giám đốc tài chính về lợi ích của một dự án đo lường thông minh . Tuy nhiên, để lấy ví dụ sau, họ chắc chắn sẽ thành công nếu họ nghĩ ra một cách để giảm chi phí, có được những hiểu biết có giá trị, phát triển các dòng doanh thu mới và tăng sự hài lòng của khách hàng, chẳng hạn, nếu họ đã tính toán.
Internet of Things thực sự quan trọng như thế nào?
Internet of Things sẽ thay đổi đáng kể cuộc sống và tổ chức của chúng ta, giống như điện toán đám mây và dữ liệu lớn là một sự thay đổi lớn, Internet và thiết bị di động đã cách mạng hóa thế giới, robot và AI (trí tuệ nhân tạo) tác động và sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của chúng ta, blockchain là một yếu tố thay đổi cuộc chơi lớn và Công nghiệp 4.0 sẽ thay đổi đáng kể bộ mặt của ngành sản xuất và thị trường công nghiệp.
Nhưng có một nhược điểm. Thật dễ dàng để nói rằng Internet, điện thoại di động, điện thoại thông minh và phương tiện truyền thông xã hội đã thay đổi nhiều thứ như chúng ở đây kể từ nhiều năm. Thật khó để nói chính xác Internet of Things sẽ thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào – nhanh như thế nào và ở đâu – chính xác là như thế nào. Chúng tôi thấy nó hoạt động như thế nào trong các tổ chức, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nơi IoT là chìa khóa của sức khỏe kỹ thuật số , v.v.
Tuy nhiên, đối với IoT và các thực tế ‘gần đây’ hơn như Công nghiệp 4.0 và các dạng AI mới nhất, vẫn còn rất sớm. Hơn nữa, ngày nay có nhiều người nghĩ rằng công nghệ sẽ giải quyết mọi thách thức, điều mà hiếm khi làm được. Một số thậm chí còn nghĩ rằng bởi vì bạn có thể thêm mọi thứ vào IoT, bạn nên làm mọi thứ mà bạn có thể. Đó là một phần trong nỗ lực của nhà cung cấp giải pháp IoT và cường điệu. Tuy nhiên, các hiện tượng như chuyển đổi kỹ thuật số và thậm chí cả Internet cho thấy mọi thứ không phải lúc nào cũng có xu hướng thay đổi nhanh và theo hướng mà một số người mong muốn. Với Internet of Things (và những thứ khác), còn có các biện pháp quản lý, các vấn đề bảo mật, các câu hỏi liên quan đến mất việc làm và hơn thế nữa.
Mặc dù không nghi ngờ gì nữa, Internet of Things thực sự là một phần của tập hợp các công nghệ và trường hợp sử dụng sẽ thay đổi nhiều thứ (từ thành phố, ô tô đến nhà ở và nhà máy), chúng tôi vẫn chưa có mặt ở đó và không biết tốc độ ra sao xảy ra. Không có một dự đoán nào về một khía cạnh cơ bản của IoT như số lượng thiết bị được kết nối theo năm x, điều này đã trở thành hiện thực trong một thời gian dài hơn và các điều chỉnh đối với dự báo cho đến nay luôn bị cắt giảm.
Về bản chất, IoT vẫn là kết nối những thứ vật chất với Internet. Như chúng tôi đã đề cập, những thứ này bao gồm thiết bị, máy móc, cảm biến và vật thể, cũng như các thiết bị theo dõi tình trạng và điều kiện phù hợp theo ngữ cảnh của các sinh vật sống như động vật và con người theo những cách mới lạ. Bất kỳ thứ gì được gắn làm điểm cuối với một địa chỉ Internet (địa chỉ IP) duy nhất với Internet và có thể cảm nhận và gửi dữ liệu đều là một phần của IoT. Điểm cuối là thứ làm cho một đối tượng có thể nhận dạng duy nhất trên IoT. Nó có thể là (một phần của) hệ thống, thiết bị, thẻ gắn với động vật hoặc hệ thống cảm biến và thông tin liên lạc được kết nối với con người.
Tuy nhiên, lợi ích chính của Internet of Things là khả năng tận dụng dữ liệu và biến chúng thành hành động và thông tin chi tiết theo những cách chưa từng thấy trước đây. Để làm như vậy, Internet of Things hoạt động trong một hệ sinh thái gồm nhiều công nghệ và quan hệ đối tác. Và đó là nơi giá trị thực của IoT bắt đầu.
Phát triển chiến lược Internet of Things với những điều này là rất quan trọng.
Câu hỏi thường gặp về Internet of Things
IoT – Internet of Things là gì?
Internet of Things (IoT) được định nghĩa là cơ sở hạ tầng toàn cầu cho xã hội thông tin, cho phép các dịch vụ tiên tiến bằng cách kết nối mọi thứ (vật lý và ảo) với nhau dựa trên các công nghệ thông tin và truyền thông tương thích hiện có và đang phát triển (mới).Internet of Things hoạt động như thế nào?
Bằng cách kết nối những thứ vật lý và ảo có chứa công nghệ nhúng để giao tiếp và cảm nhận hoặc tương tác với trạng thái bên trong của chúng hoặc môi trường bên ngoài, dữ liệu có thể được tận dụng từ các đối tượng vật lý và máy móc. Dữ liệu này được tổng hợp, phân tích và tận dụng cho trí thông minh, quyết định và ứng dụng, bao gồm cả các hành động tự quản của chính các thiết bị được kết nối.Các lớp của kiến trúc IoT là gì?
Cấu trúc hoặc công nghệ của Internet of Things bao gồm các lớp khác nhau, giống như các mạng khác. Kiến trúc 6 lớp đã được xác định, theo đó mỗi lớp chứa công nghệ, phần mềm và thiết bị riêng biệt. Bốn lớp là phân cấp hoặc dọc, và hai là ngang hoặc ngang. Các lớp dọc là: Các ‘thứ’ được kết nối và các thiết bị IoT. Cổng kết nối IoT . Các nền tảng IoT . Các ứng dụng IoT. Các lớp ngang là: Công nghệ mạng IoT . Các công nghệ bảo mật IoT.Ai đã phát minh ra Internet of Things?
Internet of Things không phải là một phát minh. Nó sử dụng các công nghệ và hệ thống tương thích hiện có và mới để kết nối mọi thứ và tận dụng dữ liệu từ những thứ được kết nối này. IoT là sự phát triển hơn nữa của Internet, truyền thông M2M (máy với máy), RFID (nhận dạng tần số vô tuyến) và các công nghệ khác kết nối vạn vật. Thuật ngữ Internet of Things được Kevin Ashton đặt ra ‘để mô tả một hệ thống mà Internet được kết nối với thế giới vật chất thông qua các cảm biến phổ biến’.
Học viện Công nghệ BCVT cần đột phá về đào tạo – nghiên cứu trong năm 2020, trong đó có mở ngành đào tạo IoT để đáp ứng chuyển đổi số, kinh tế số, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”, Thứ trưởng Bộ TTTT Phan Tâm nhấn mạnh.
Thứ trưởng Bộ TT&TT Phan Tâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ TTTT Phan Tâm nhấn mạnh các thành tích trong công tác của Học viện công nghệ BCVT trong năm 2019 khi Học viện tiếp tục khẳng định vị trí hàng đầu về đào tạo lĩnh vực CNTT-TT. Hoạt động nghiên cứu gắn kết với thực tiễn sản xuất kinh doanh (SXKD), đào tạo quốc tế…
Để đột phá trong năm 2020, năm bản lề cho giai đoạn phát triển 2020 – 2025, Thứ trưởng Bộ TTTT yêu cầu Học viện đột phá trên 3 khâu.
Cụ thể, về tổ chức quản trị, Học viện khẩn trương triển khai việc thành lập Hội đồng trường đáp ứng giải quyết công việc nhanh hơn và tạo cơ hội để Học viện phát triển nhanh hơn trong thời gian tới; Tiếp tục tổ chức, sắp xếp lại khối R&D để đạt kết quả cao hơn nữa và cơ chế chi tiêu nội bộ tạo động lực cho các cán bộ Học viện cùng phấn đấu.
Về đào tạo – nghiên cứu, có thể đột phá triển khai Đề án đào tạo lại và đào tạo nâng cao trong công cuộc chuyển đổi số – tạo không gian, nguồn thu mới cho Học viện; Đào tạo CNTT chất lượng cao bằng tiếng Anh; Có giải pháp đột phá để mở các ngành nghề mới như công nghệ tài chính, robotics, khoa học dữ liệu, đào tạo ngành IoT …
Học viện cũng cần huy động các nguồn lực cho đầu tư và phát triển cơ sở vật chất của Học viện thông qua thí điểm hợp tác công tư, để chuẩn bị cho sự phát triển nhanh hơn trong tương lai.
Giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông PGS.TS Vũ Văn San
Để Học viện phát triển đột phá, Giám đốc Học viện Vũ Văn San nhấn mạnh: Năm học 2020, Học viện sẽ hoàn thành xây dựng, mở ngành và đào tạo các ngành trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp (CMCN 4.0): Xây dựng đề án mở ngành và tổ chức tuyển sinh ngành FinTech; Tổ chức tuyển sinh và đào tạo các ngành mới như đào tạo ngành IoT, Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa (Định hướng Robostic), hiện đã xong đề án mở ngành năm 2019.
Học viện cũng triển khai chương trình kỹ sư CNTT (AI) cho các nước ASEAN và chương trình CNTT 100% tiếng Anh cho sinh viên (SV) Việt Nam.
Học viện cũng hoàn thành xây dựng chương trình và triển khai đào tạo Kỹ sư chất lượng cao các ngành CNTT, Viễn thông, Marketing; Xây dựng đề án mở ngành Kỹ thuật dữ liệu và tiếp tục phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao và liên kết quốc tế.
Thông tin về đào tạo ngành IoT, mở ngành fintech, một ngành học mới của Học viện trong năm 2020, TS. Hoàng Văn Hậu, Khoa Tài chính Kế toán cho biết: Năm học 2019, Học viện đã mở ngành tài chính chuẩn quốc tế và tuyển sinh khoá đầu. Học viện sẽ mở ngành fintech đáp ứng CMCN 4.0 khi lĩnh vực tài chính bị tác động rất lớn, nhân lực chất lượng cao thiếu trầm trọng. Đây là một chương trình đào tạo mới, đột phá và chưa có nhiều trường mở.
✔️ Tỷ lệ người học hài lòng về hoạt động giảng dạy đạt 85%
Báo cáo công tác Học viện năm 2019, ông Trần Quang Anh, Phó Giám đốc Học viện cho biết: năm 2019, công tác tuyển sinh Đại học (ĐH) chính quy tiếp tục thành công. Học viện đã tuyển sinh được 3.456 SV ĐH chính quy (đạt 101% so với tổng chỉ tiêu đề ra và tương đương với mức tuyển sinh năm 2019), đồng thời nằm trong nhóm các trường ĐH tuyển sinh đặt điểm cao trong cả nước.
Quy mô đào tạo toàn Học viện năm 2019 đạt khoảng 13.000 sinh viên trong đó hệ Sau ĐH (Thạc sỹ, Tiến sỹ) là 330 (Chiếm 2,5%), ĐH chính quy là 12.300 SV (Chiếm khoảng 93%), Cao đẳng – giáo dục nghề nghiệp là 130 SV (Chiếm khoảng 1%), từ xa là 500 SV (Chiếm khoảng 3,8%).
Năm 2019, Học viện đã tổ chức thi 26 kỳ thi đối với các trình độ và hình thức đào tạo khác nhau (tốt nghiệp, kết thúc học phần, chính quy, từ xa,…) cho hơn 200.000 lượt SV, học viên dự thi và 8 đợt bảo vệ Đồ án/khóa luận tốt nghiệp với 627 SV hệ ĐH chính quy; 02 kỳ thi thay thế tốt nghiệp, 02 kỳ thi tốt nghiệp, 03 kỳ thi chuẩn đầu ra Tiếng Anh cho SV ĐH chính quy cuối khóa.
Năm 2019, Học viện đã tổ chức triển khai lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên, về công tác đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất phục vụ người học các hệ đào tạo chính quy học kỳ 1, năm học 2019 – 2020. Cụ thể, tỷ lệ người học hài lòng về hoạt động giảng dạy đạt 85%, tỷ lệ người học hài lòng về cơ sở vật chất đạt 80%, hoàn thành chỉ tiêu so với kế hoạch 2019.
Bên cạnh đó, Học viện cũng quan tâm và thực hiện tốt các chế độ chính sách về miễn giảm học phí, học bổng, khen thưởng khuyến khích học tập cho SV, cấp học bổng cho 650 SV; Khen thưởng 15 tập thể và 520 SV có thành tích học tập xuất sắc; Tổ chức cho SV dự các kỳ thi dự thi: Olympic Toán, Olympic Tin học SV toàn quốc và Kỳ thi lập trình Quốc tế ACM/ICPC tại Đà Nẵng đạt kết quả 01 Giải Nhì, 07 Giải Ba, 01 Giải Khuyến khích.
Năm 2019, Học viện đã cấp học bổng với tổng trị giá 9,5 tỷ đồng cho SV, học viên các hệ và 1,4 tỷ đồng học bổng tài trợ từ các Doanh nghiệp/Tổ chức cho SV, học viên các hệ.
Học viện đã thúc đẩy và hỗ trợ hoạt động trao đổi giảng viên và SV với các trường ĐH đối tác như Chương trình học bổng PBL Nhật Bản, đã có 43 SV tham gia các chương trình liên kết đào tạo và trao đổi quốc tế (đạt 140% chỉ tiêu đề ra) và 60 SV quốc tế đến học tại Học viện; đã ký kết và đang triển khai thực hiện 18 thỏa thuận hợp tác với các trường ĐH và tổ chức quốc tế.
Các Trung tâm Đào tạo trực thuộc Học viện và Viện CNTT-TT tiếp tục phát triển, hoàn thành tốt kế hoạch được giao, trong đó nguồn thu từ hoạt động đào tạo bồi dưỡng là 4,3 tỷ đồng đạt 96% kế hoạch đề ra.
Học viện đã xúc tiến, thực hiện 17 nhiệm vụ KHCN cấp nhà nước với tổng kinh phí giao 65 tỷ đồng, giá trị giải ngân năm 2019 là 25 tỷ đồng (đạt 38,46%).
Ngoài ra, Học viện đang thực hiện 04 Nhiệm vụ dự án NCKH hợp tác quốc tế ước tính (kinh phí khoảng 8,2 tỷ đồng); 02 Dự án với Doanh nghiệp trị giá 8,6 tỷ đồng (trong đó VinGroup tài trợ dự án 7,6 tỷ, Công ty Kỹ thuật bay Adtech 1 tỷ), VinGroup cũng tài trợ xấp xỉ 1 tỷ đồng cho 06 NCS của Học viện hỗ trợ NCKH.
Trong năm 2019, Học viện đã thực hiện xúc tiến nhiều nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Nhà nước. Trong đó, Học viện đã xúc tiến mới thành công 04 đề tài KHCN cấp Nhà nước với tổng kinh phí hơn 20 tỷ đồng.
Ngành đào tạo IoT được nhận định là ngành sẽ dẫn đầu xu thế trong cách mạng công nghiệp 4.0, để tìm hiểu về ngành này bạn có thể xem thêm:Ngành Công Nghệ Internet Vạn Vật – IoT
Công nghệ IoT cho phép chủ sở hữu khách sạn tối ưu hóa các điều kiện trong khách sạn, mang lại trải nghiệm cá nhân hóa hơn cho khách và giảm thời gian chờ đợi. Về mặt hoạt động, dữ liệu tự động hóa và thời gian thực có thể giúp các công ty xác định vấn đề sớm hơn và thậm chí ngăn chặn một số vấn đề xảy ra.
5 ví dụ về Công Nghệ IoT trong ngành Nhà hàng Khách sạn
1. Phòng khách sạn siêu cá nhân
Cho đến nay, ứng dụng chính của Công Nghệ IoT trong ngành khách sạn là tập trung vào siêu cá nhân hóa. Ví dụ, Hilton và Marriott đã thử nghiệm một chút khác biệt về khái niệm phòng được kết nối, nơi người dùng có thể kiểm soát nhiều tính năng của phòng từ điện thoại di động hoặc từ máy tính bảng được cung cấp.
Điều này cho phép khách điều khiển hệ thống sưởi, thông gió và điều hòa không khí từ một nơi hoặc thậm chí chỉ cần xác định nhiệt độ và cho phép các thiết bị khác nhau tự động điều chỉnh phòng theo nhiệt độ đó. Nó cũng cho phép điều khiển tivi, một số thiết bị thậm chí có thể chào khách bằng tên.
2. Thông tin dựa trên vị trí
Bluetooth, GPS và công nghệ đèn hiệu đều đã mở ra những khả năng mới về việc cung cấp thông tin dựa trên vị trí và điều này có thể được các công ty trong ngành khách sạn và khách sạn sử dụng để gửi tin nhắn cho khách hàng vào thời điểm chính xác. Thực tế ảo (VR) là gì? Ứng dụng VR trong ngành khách sạn
Điều này có nghĩa là, ví dụ, gửi tin nhắn SMS về các mục trong thực đơn tại nhà hàng khi khách ở gần nhà hàng hoặc quảng cáo dịch vụ phòng tập thể dục khi họ ở gần phòng tập thể dục. Nó cũng có thể có nghĩa là gửi thông tin cập nhật về các liên kết giao thông địa phương hoặc các điểm tham quan gần đó. Các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng dữ liệu vị trí để tối ưu hóa mức độ nhân viên.
3. Dự đoán sửa chữa & bảo trì
Một ứng dụng tiềm năng khác của Internet of Things trong ngành khách sạn liên quan đến việc cung cấp cho nhân viên khách sạn thông tin cập nhật từng giây về tình trạng hoạt động của các thiết bị và cảnh báo cho các nhân viên đó về bất kỳ dấu hiệu nào có thể là dấu hiệu hư hỏng, hoặc hiệu suất bất thường.
Lợi ích chính của việc này là cho phép tiến hành sửa chữa hoặc thay thế trước khi thiết bị ngừng hoạt động hoàn toàn. Điều này có thể là vô giá khi liên quan tới các thiết bị quan trọng mà khách sạn không thể ngừng hoạt động.
4. Thẻ chìa khóa điện tử
Theo truyền thống, các khách sạn dựa vào thẻ từ, thẻ chíp hoặc thậm chí là chìa khóa vật lý để mở khóa phòng khách sạn. Nhưng Công Nghệ IoTmở ra những khả năng mới về việc gửi trực tiếp thẻ chìa khóa kỹ thuật số hoặc điện tử cho khách qua điện thoại di động. Điện thoại của khách sau đó có thể giao tiếp với khóa trên cửa, mở khóa và loại bỏ sự cần thiết của một khóa riêng.
Ứng dụng IoT trong mở cửa phòng khách sạn.
Tiềm năng của công nghệ này sẽ còn tiến xa hơn nhiều. Các khách sạn có thể sử dụng công nghệ liên lạc qua internet để tự động gửi khóa điện tử đến điện thoại của khách một giờ trước giờ nhận phòng, đồng bộ hóa cửa lên với bàn đăng ký và cho phép khách hoàn toàn bỏ qua bàn đăng ký và đi thẳng đến phòng của họ. Ứng dụng blockchain giải quyết vấn đề hoa hồng khách sạn
5. Dịch vụ khách hàng điều khiển bằng giọng nói
Cuối cùng, các công ty khách sạn như Best Western, Marriott và Wynn là một trong những nhà tiên phong sử dụng dịch vụ khách hàng điều khiển bằng giọng nói và đây là lĩnh vực có khả năng mở rộng đáng kể trong năm năm tới, khi các sản phẩm như Amazon Echo được áp dụng rộng rãi hơn trong môi trường gia đình.
Lợi ích nó có thể đem lại cho khách sạn là nâng cao trải nghiệm khách hàng. Chẳng hạn, trợ lý phòng điều khiển bằng giọng nói cho phép khách hàng yêu cầu dịch vụ phòng, đặt bàn tại nhà hàng của khách sạn hoặc đặt các buổi spa bằng cách nói chuyện đơn giản với một thiết bị trong phòng của họ.
Công Nghệ IoTđã được triển khai trong ngành khách sạn. Việc chủ khách sạn hiểu và tận dụng nó là rất quan trọng. Đặc biệt, nó có thể giúp tự động hóa các quy trình, cải thiện trải nghiệm khách hàng và giúp các công ty khách sạn tiết kiệm chi phí năng lượng và bảo trì.
Từ việc sử dụng phân tích dữ liệu ở rìa cho đến kỹ thuật số, chăm sóc sức khỏe từ xa đến robot và tự động hóa gia tăng, xu hướng IoT vào năm 2023 khai thác dữ liệu ở rìa.
Những điều quan trọng trong bài viết này bao gồm những điều sau:
COVID-19 đã tăng tốc số hóa các quy trình và ngành công nghiệp khác nhau và nó sẽ định hình xu hướng IoT vào năm 2023.
Các lĩnh vực như sức khỏe kỹ thuật số; giám sát từ xa cơ sở; và kết nối, môi trường thông minh sẽ tiếp tục phát triển do sự xa rời xã hội và các yêu cầu về sức khỏe.
Xu hướng IoT vào năm 2023 sẽ phá vỡ một số lực lượng lao động và mở ra khả năng tăng cường con người trong công việc.
Mặc dù năm 2020 đang ở phía sau chúng ta, nhưng nó đã để lại những luồng gió mạnh mẽ sẽ tiếp tục phân nhánh cho đến năm 2023.
Trong cuộc trò chuyện này với Bill Kleyman, phó chủ tịch của Switch, chúng ta sẽ khám phá các xu hướng IoT chính. Đây là một phần trong cuộc thảo luận gồm hai phần của chúng tôi, trong đó chúng tôi đi sâu vào năm xu hướng IoT đầu tiên của năm 2023 mà chúng tôi dự đoán sẽ có tác động và tạo ra các hình thức mới. Hãy xem video của chúng tôi bên dưới, thảo luận về các xu hướng sau.
Phân tích ở rìa. Với sự ra đời của COVID-19, các yêu cầu về khoảng cách xã hội đã thúc đẩy công việc từ xa. Điều này lại thúc đẩy nhu cầu về các tài nguyên máy tính phân tán nằm gần thiết bị và người dùng và cách xa các vị trí tập trung như văn phòng, trung tâm dữ liệu và đám mây. COVID-19 đã đẩy nhanh việc đẩy các nguồn lực này ra rìa và tránh xa các đám mây tập trung, đặc biệt là khi nhân viên tiếp tục làm việc tại nhà, bệnh nhân sử dụng các nguồn lực y tế kỹ thuật số và các nhà máy sử dụng theo dõi và tự động hóa từ xa hơn.
“Mọi người đang trải nghiệm khái niệm thực sự về làm việc từ xa và chúng tôi nhận thấy nhu cầu kết nối mới xuất hiện do làm việc từ xa. Kleyman cho biết chúng tôi đang trải nghiệm những khái niệm thực sự về điện toán phân tán.
Hơn nữa, với kiến trúc điện toán biên, “Chúng ta sẽ thấy các khái niệm mới xuất hiện xung quanh những thứ được kết nối ở biên,” ông nói, bao gồm phân tích dữ liệu được bản địa hóa cho phép người dùng sử dụng dữ liệu gần nguồn nhất có thể cũng như tích hợp sâu hơn giữa các thiết bị. Kho dữ liệu, hồ dữ liệu và phân loại dữ liệu cũng trở nên quan trọng để vượt qua hàng terabyte dữ liệu được tạo ra ở rìa.
Các tùy chọn kết nối chẳng hạn như 5G nở rộ. Kleyman nói rằng tiêu chuẩn kết nối 5G mới nổi- hứa hẹn tốc độ tải lên và tải xuống nhanh hơn và cải thiện hiệu suất mạng – sẽ mở ra các tùy chọn kết nối mới trong các cài đặt hạn chế. “Bạn có một phạm vi rộng hơn để làm việc,” Kleyman nói. Người dùng có thể tạo các mạng riêng lẻ khi họ mất kết nối; các mạng này có thể an toàn hơn và hoạt động tốt hơn. Ông nói: “Bạn có thể tạo mạng di động có hàng rào địa lý của riêng mình mà không phụ thuộc vào các nhà cung cấp địa phương. “Điều này có thể áp dụng cho hậu cần, trung tâm dữ liệu, các cơ sở của chính phủ.” 5G cuối cùng có thể cho phép các nhà thực hành chăm sóc sức khỏe cung cấp các tùy chọn chăm sóc sức khỏe từ xa đến các vùng sâu vùng xa và các chuyên gia để trao đổi về các vấn đề sức khỏe hiếm gặp. Điều này có ý nghĩa đối với các địa điểm xa xôi hơn thiếu khả năng tiếp cận, chẳng hạn như các địa điểm nông thôn và vùng sâu vùng xa “để mang lại các dịch vụ cứu người và cải thiện hậu cần,” Kleyman nói.
Môi trường thông minh. Chỉ vài năm trước, công nghệ tòa nhà thông minh đã sử dụng công nghệ Internet vạn vật (IoT) để xây dựng môi trường tiết kiệm năng lượng, tự động và an toàn hơn . Cảm biến IoT được sử dụng chủ yếu để kiểm soát nhiệt độ, chiếu sáng tự động và khả năng bảo mật của tòa nhà.
Các công nghệ IoT hiện sẽ được sử dụng cho một loạt các quy trình an toàn và sức khỏe để giám sát COVID-19. Cảm biến sẽ giúp vệ sinh và làm sạch các phòng cũng như khả năng sàng lọc và theo dõi các công nhân tại chỗ. Chúng cũng sẽ được sử dụng để đưa ra các khuyến nghị nhằm đảm bảo sự xa rời xã hội tốt hơn.
Kleyman nói: “Chúng ta sẽ thấy những môi trường thông minh hơn, nhận thức rõ hơn về vị trí mà mọi người đang… hiểu về giao thông đi bộ”. “Chỉ cần hiểu về sinh trắc học và sự di chuyển của mọi người trong một cơ sở sẽ giúp đảm bảo các giao thức phù hợp.”
Tuy nhiên, những công nghệ này cũng gây ra các vấn đề về quyền riêng tư khi người sử dụng lao động theo dõi các chuyển động và hành vi của công nhân chặt chẽ hơn. “Thật là một con đường tuyệt vời để đi bộ,” Kleyman nói.
Ví dụ, Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Kansas có một vị trí vệ tinh cho phép các bác sĩ từ vị trí trung tâm có thể nhìn thấy và tương tác với trẻ em đang điều trị. Cơ sở hạ tầng phù hợp cho phép video chất lượng cao, thời gian thực để kiểm tra hầu như trẻ em đang điều trị. Kleyman nói: “Những loại dịch vụ này sẽ không tồn tại chỉ vài năm trước đây.
“Một đứa trẻ sẽ phải ổ đĩa 20, 30, 50, 100 dặm để có được một cơ sở được kiểm tra. Đây là những gì mà số hóa và hiện đại hóa chăm sóc sức khỏe trông giống như: ứng dụng của các thiết bị kết nối, kết nối và cơ sở hạ tầng cạnh để cải thiện cuộc sống của người dân ”. Kleyman cũng cảnh báo về việc quản lý luồng dữ liệu khi nó truyền từ thiết bị qua mạng tới đám mây. Bảo mật dữ liệu, mã hóa và phân tách mạng logic trở nên quan trọng.
Người máy . Kleyman nói rằng các hệ thống robot trở nên quan trọng khi các quy trình làm việc trở nên từ xa, tự động và phân tán hơn. Vì vậy, ví dụ, khi một nhà kho có ít công nhân hơn, người máy trở nên quan trọng để lấp đầy khoảng trống . Kleyman nói: “Điện toán biên, môi trường phân tán sẽ đòi hỏi sự hỗ trợ của con người. “Người máy và tự động hóa sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong các môi trường phân tán.” Ông lập luận thêm rằng mặc dù trong một số trường hợp, robot sẽ thay thế công nhân, nhưng hiệu quả ròng sẽ là thay đổi vai trò của người lao động hiện tại chứ không chỉ đơn giản là thay thế họ hoàn toàn. Ông nói: “Robot sẽ hỗ trợ ít người hơn, hỗ trợ các môi trường lớn hơn. “Một số vai trò và công việc sẽ bị ảnh hưởng. “Tôi không nghĩ rằng đó sẽ là một sự gián đoạn hoàn toàn trong công việc, nhưng sẽ có một sự thích nghi với công việc.”
Thời gian: 8h30 ngày 26/3/2021 Đơn vị tổ chức: Hội Vô tuyến – Điện tử Việt Nam Phối hợp tổ chức: ĐHQGHN, PTIT, ĐHBKĐN Địa điểm: + Đầu cầu HN: ĐHQGHN, số 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. + Đầu cầu TPHCM: Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Cơ sở TP. Hồ Chí Minh, số 11 Nguyễn Đình Chiểu, Phường Đa Kao, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh. + Đầu cầu Đà Nẵng: ĐHBK Đà Nẵng, số 54 Nguyễn Lương Bằng, Liên Chiểu, Đà Nẵng.
Một anten liên lạc vệ tinh parabol tại cơ sở liên lạc vệ tinh lớn nhất ở Raisting, Bavaria, Đức. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/
Lịch sử ngành điện tử viễn thông bắt đầu với việc sử dụng tín hiệu khói và trống ở châu Phi, châu Mỹ và một số khu vực của châu Á. Vào những năm 1790, các hệ thống semaphore cố định đầu tiên xuất hiện ở Châu Âu; tuy nhiên, phải đến những năm 1830, các hệ thống viễn thông điện mới bắt đầu xuất hiện. Theo dõi sự tiến bộ này từ tín hiệu khói đến công nghệ di động và internet hiện đại, hiểu được các sự kiện đã hình thành thế giới viễn thông.
Bài viết này trình bày chi tiết lịch sử của ngành điện tử viễn thông và những cá nhân đã giúp tạo ra hệ thống viễn thông như ngày nay. Lịch sử của viễn thông là một phần quan trọng của lịch sử truyền thông lớn hơn.
Kỷ nguyên sơ khai của Kỹ Thuật Điện Tử Viễn Thông:
Viễn thông ban đầu bao gồm tín hiệu khói và trống. Trống nói được sử dụng bởi người bản xứ ở Châu Phi, New Guinea và Nam Mỹ, và tín hiệu khói ở Bắc Mỹ và Trung Quốc. Trái ngược với những gì người ta có thể nghĩ, những hệ thống này thường được sử dụng để làm nhiều việc hơn là chỉ thông báo về sự hiện diện của một trại.
Năm 1792, một kỹ sư người Pháp, Claude Chappe đã xây dựng hệ thống điện báo hình ảnh (hay semaphore) đầu tiên giữa Lille và Paris. Tiếp theo là một tuyến từ Strasbourg đến Paris. Năm 1794, một kỹ sư người Thụy Điển, Abraham Edelcrantz đã xây dựng một hệ thống khá khác biệt từ Stockholm đến Drottningholm. Trái ngược với hệ thống của Chappe liên quan đến các ròng rọc quay các chùm gỗ, hệ thống của Edelcrantz chỉ dựa vào cửa chớp và do đó nhanh hơn. Tuy nhiên, semaphore như một hệ thống thông tin liên lạc bị sự cần thiết của các nhà khai thác có tay nghề và tháp đắt tiền thường trong khoảng thời gian chỉ 10-30 km (6-19 dặm). Do đó, dây chuyền thương mại cuối cùng đã bị bỏ dở vào năm 1880.
Sự ra đời của Hệ thống Điện báo:
Viễn thông bắt đầu với sự đổi mới thành công hệ thống điện báo của Samuel Morse vào năm 1844. Trong ba năm, Bưu điện Hoa Kỳ đã đi tiên phong trong tuyến từ Washington đến Baltimore. Vào thời điểm đó, các công ty điện báo tư nhân khác đã phát triển (công ty đầu tiên được kết nối giữa New York và Philadelphia) và đang phát triển nhanh chóng. Việc mở rộng điện báo song song và hỗ trợ sự phát triển của mạng lưới đường sắt của Mỹ. Cái thứ hai cung cấp một quyền chuẩn bị sẵn sàng, trong khi cái trước cung cấp các liên kết giao tiếp quan trọng cho các mạng đường đơn thường di chuyển người và hàng hóa. Đường dây điện báo từ bờ biển đến bờ biển đầu tiên được mở vào năm 1862 (bảy năm trước khi các liên kết đường sắt mở rộng đến mức đó) và ngay lập tức hái ra tiền, chứng tỏ giá trị của viễn thông trên những khoảng cách rất xa.
Liên minh công ty ban đầu:
Western Union, công ty độc quyền viễn thông đầu tiên, được thành lập như một liên minh khu vực của một số công ty nhỏ hơn vào năm 1856 và nhanh chóng mở rộng, thường đi theo các tuyến đường sắt. Chỉ một năm sau, sáu công ty điện báo lớn nhất đã phát triển một cartel, phân chia đất nước và hoạt động kinh doanh của họ. Nội chiến đã chứng minh giá trị của các liên kết điện báo (Liên minh được trang bị tốt hơn nhiều so với Liên minh) và làm tăng tỷ lệ và lợi nhuận của công ty. Western Union đã tiếp quản một số 15.000 dặm đường do chính phủ xây dựng ở phần cuối của chiến tranh và trở thành đến nay là công ty lớn nhất trong lĩnh vực này.
Hệ thống điện báo quốc tế:
Các hệ thống điện báo ban đầu chỉ phục vụ các tuyến đường bộ, vì người ta cho rằng không thể đặt đường dây dưới nước. Sau khi thử nghiệm chạy các đường dây điện báo cách điện dưới hồ và qua sông, vào năm 1858, một tập đoàn do Mỹ đứng đầu đã đặt tuyến cáp đầu tiên kết nối Anh và Mỹ, cuối cùng đã thất bại trong vài tháng. Sau một nỗ lực đặt dây cáp thất bại vào năm 1865, thành công đến vào năm 1866; ngay sau đó những người khác đã được thêm vào. Thái Bình Dương đã không được vượt qua cho đến năm 1902 vì có khoảng cách rất xa. Sự sẵn có của điện báo toàn cầu đã nhanh chóng thay đổi bộ mặt của các công việc kinh doanh và chính phủ. Khả năng giao tiếp “tức thì” có tác động tích cực lớn đến hoạt động kinh doanh và các khía cạnh khác của con người trong cuộc sống hàng ngày.
Sự ra đời của điện thoại:
Sự thành công của ngành điện báo và các doanh nghiệp sản xuất điện đang phát triển đã hình thành bối cảnh cho điện thoại. Điện thoại điện được phát minh vào những năm 1870, dựa trên nghiên cứu trước đó với máy điện báo sóng hài (đa tín hiệu). Các dịch vụ điện thoại thương mại đầu tiên được thiết lập vào năm 1878 và 1879 trên cả hai bờ Đại Tây Dương tại các thành phố New Haven và London. Tổng đài điện thoại đầu tiên được đưa vào hoạt động tại New Haven, Connecticut vào đầu năm 1878, và đã chứng tỏ hiệu quả cao hơn của nó trên các đường dây riêng lẻ giữa từng khách hàng. Việc sử dụng số điện thoại và danh bạ đầu tiên của những người sử dụng điện thoại đã xuất hiện vào khoảng thời gian đó. Tổng đài điện thoại (sử dụng nhiều tổng đài) xuất hiện sau đó khoảng hai thập kỷ.
Điện thoại phần lớn là sự sáng tạo của Alexander Graham Bell, người đã nhận được bằng sáng chế đầu tiên của mình vào tháng 3 năm 1876. Sự phát triển ban đầu của điện thoại gặp rất nhiều vấn đề về kỹ thuật và tài chính. Alexander Graham Bell đã nắm giữ bằng sáng chế chính cho chiếc điện thoại cần thiết cho các dịch vụ như vậy ở cả hai quốc gia. Công nghệ phát triển nhanh chóng kể từ thời điểm này, với các đường dây liên thành phố được xây dựng và các tổng đài điện thoại ở mọi thành phố lớn của Hoa Kỳ vào giữa những năm 1880.
Hạn chế bởi công nghệ thô để cung cấp dịch vụ địa phương (dây sắt ban đầu hiếm khi kéo dài 100 dặm), dịch vụ điện thoại phát triển chậm trước các bằng sáng chế Chuông hết hạn vào năm 1893. Chiến lược kinh doanh ban đầu của Bell tập trung vào việc cấp phép sử dụng bằng sáng chế của mình và bán thiết bị cho các công ty xây dựng hệ thống tại các thành phố và các thị trấn, phần lớn để phục vụ kinh doanh và những người giàu có.
Điện thoại tự động cơ học:
Một người làm việc ở Thành phố Kansas, lo ngại rằng các nhà khai thác điện thoại đang gửi công việc kinh doanh cho các đối thủ cạnh tranh của mình, đã phát triển công tắc điện thoại tự động cơ học đầu tiên vào năm 1891. Các công tắc tự động đầu tiên bắt đầu xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ này ở các thành phố lớn — và sẽ được sử dụng trong các cộng đồng nhỏ hơn trong nhiều thập kỷ. đường dây điện thoại bằng đồng được đặt trong sử dụng giữa Boston và New York, mở rộng dịch vụ điện thoại đến 300 dặm. Vào khoảng năm 1893, quốc gia dẫn đầu thế giới về số điện thoại trên 100 người (cường độ từ xa) là Thụy Điển với 0,55 trên cả nước nhưng 4 ở Stockholm (10.000 trên tổng số 27.658 thuê bao). Con số này so với 0,4 ở Hoa Kỳ trong năm đó. Dịch vụ điện thoại ở Thụy Điển đã phát triển thông qua nhiều hình thức tổ chức: Công ty Điện thoại Bell Quốc tế (một công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ), các hợp tác xã thị trấn và làng mạc, General Telephone Company of Stockholm (một công ty tư nhân của Thụy Điển), và Cục Điện báo Thụy Điển (một bộ phận của chính phủ Thụy Điển). Vì Stockholm bao gồm các đảo, dịch vụ điện thoại mang lại lợi thế tương đối lớn nhưng phải sử dụng rộng rãi cáp ngầm. Sự cạnh tranh giữa Bell Telephone và General Telephone, và sau đó là giữa General Telephone và Cục Điện báo Thụy Điển, rất khốc liệt.
Sự phát triển của thế kỷ 20 trong viễn thông:
Đến năm 1904, có hơn ba triệu điện thoại ở Mỹ, vẫn được kết nối bằng các tổng đài thủ công. Đến năm 1914, Mỹ là quốc gia dẫn đầu thế giới về cường độ viễn thông và có cường độ viễn thông cao hơn gấp đôi so với Thụy Điển, New Zealand, Thụy Sĩ và Na Uy. Hoạt động tương đối tốt của Hoa Kỳ xảy ra mặc dù các mạng điện thoại cạnh tranh không kết nối với nhau.
Trong nửa thế kỷ tiếp theo, mạng lưới đằng sau điện thoại ngày càng lớn hơn và hiệu quả hơn nhiều, và sau khi mặt số quay được thêm vào, bản thân thiết bị đã thay đổi rất ít cho đến khi tín hiệu cảm ứng bắt đầu thay thế mặt số quay vào những năm 1960.
Truyền thông thoại xuyên Đại Tây Dương:
Bất chấp tất cả những phát triển này, khách hàng vẫn không thể liên lạc bằng giọng nói xuyên Đại Tây Dương cho đến ngày 7 tháng 1 năm 1927, khi một kết nối được thiết lập bằng radio. Tuy nhiên, không có kết nối cáp nào tồn tại cho đến khi TAT-1 được khánh thành vào ngày 25 tháng 9 năm 1956, cung cấp 36 mạch điện thoại. Dịch vụ điện thoại xuyên lục địa chỉ trở nên khả thi vào khoảng năm 1915 nhờ việc sử dụng bộ khuếch đại dựa trên ống chân không “Audion” của Lee De Forest.
Cáp đồng trục và liên kết vi sóng:
Công nghệ được cải tiến sẽ bắt đầu thay đổi bộ mặt viễn thông sau năm 1945. Do nhu cầu và chi tiêu thời chiến, Bell Labs và các nhà nghiên cứu khác đã sản xuất cáp đồng trục và liên kết vi sóng lần đầu tiên được sử dụng thương mại trong những năm sau chiến tranh. Không còn cần thiết để xây dựng một mạng viễn thông đắt tiền bằng cách sử dụng dây đồng. Liên kết vi sóng yêu cầu sử dụng nhiều cột ăng ten – và giấy phép sử dụng phổ tần số cao – nhưng điều này ít tốn kém hơn so với mạng có dây truyền thống. Cáp đồng trục cung cấp dung lượng băng thông rộng cần thiết để truyền hàng nghìn cuộc gọi điện thoại hoặc video chuyển động đầy đủ.
Truyền thông vệ tinh:
Phát triển thông tin liên lạc vệ tinh lần đầu tiên được ám chỉ trong một bài viết năm 1945 bởi Arthur C. Clarke, trong đó ông mặc nhiên công nhận một quỹ đạo địa tĩnh cao 22.300 dặm mà có thể giữ một vệ tinh trên cùng một phần của Trái Đất. Bị thúc đẩy bởi cuộc chạy đua tên lửa thời chiến tranh lạnh, vệ tinh nhân tạo đầu tiên trên thế giới ra đời chỉ 12 năm sau khi Liên Xô phóng Sputnik vào quỹ đạo thấp của Trái đất vào tháng 10 năm 1957. Thông tin liên lạc vệ tinh quân sự ban đầu đi theo quỹ đạo thấp tương tự cho đến khi có vệ tinh địa tĩnh thương mại đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970.
Điện thoại di động:
Lịch sử của điện thoại di động có thể bắt nguồn từ bộ đàm hai chiều được lắp đặt vĩnh viễn trên các phương tiện như taxi, tàu tuần dương cảnh sát, tàu hỏa, v.v. Các phiên bản sau này, chẳng hạn như cái gọi là có thể vận chuyển hoặc “điện thoại túi” được trang bị đầu cắm bật lửa để chúng cũng có thể mang theo và do đó có thể được sử dụng như radio hai chiều di động hoặc điện thoại di động bằng cách được vá vào mạng điện thoại.
Bell Labs đã phát triển khái niệm về hệ thống “tế bào” cho phép tái sử dụng tần số (và do đó có dung lượng lớn hơn) và phát triển nó trong suốt những năm 1970. Vào ngày 3 tháng 4 năm 1973, giám đốc Motorola Martin Cooper đã gọi điện thoại di động (trước mặt các phóng viên) cho Tiến sĩ Joel S. Engel, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu của AT&T’s Bell Labs. Điều này bắt đầu kỷ nguyên của điện thoại di động cầm tay. Trong khi đó, việc khánh thành cáp TAT-1 năm 1956 và quay số trực tiếp quốc tế sau đó là những bước quan trọng trong việc kết hợp các mạng điện thoại châu lục khác nhau thành một mạng toàn cầu. FCC đã phê duyệt hoạt động của hệ thống điện thoại di động tương tự vào năm 1982, tạo ra một lĩnh vực tăng trưởng mới.
Các công ty truyền hình cáp:
Vào cuối những năm 1980, các công ty truyền hình cáp bắt đầu sử dụng mạng cáp đang phát triển nhanh của họ, với các đường ống dẫn dưới các đường phố của Vương quốc Anh, để cung cấp dịch vụ điện thoại liên kết với các công ty điện thoại lớn. Một trong những nhà khai thác cáp đầu tiên ở Anh, Cable London, đã kết nối khách hàng điện thoại cáp đầu tiên của mình vào khoảng năm 1990.
Công nghệ kỹ thuật số:
Công nghệ kỹ thuật số lần đầu tiên xuất hiện trong ngành viễn thông Mỹ với việc AT&T giới thiệu Hệ thống sóng mang T1 vào năm 1962. Đường dây T1 cung cấp dung lượng lớn hơn và tín hiệu sạch hơn (ít nhiễu hơn). Ngay sau đó các thiết bị chuyển mạch điện thoại kỹ thuật số đã xuất hiện, cho phép thiết kế và vận hành mạng linh hoạt hơn. Nhưng thay đổi sâu rộng nhất đến với việc lắp đặt cáp quang để truyền tín hiệu thoại, dữ liệu và video. Khả năng chuyên chở khổng lồ của sợi quang – không ngừng tăng lên với những cải tiến kỹ thuật hơn nữa – cuối cùng đã đặt các mạng viễn thông vượt lên trên mức tăng trưởng dự kiến (và gieo mầm cho thảm họa vào đầu những năm 2000).
Internet:
Vào ngày 11 tháng 9 năm 1940, George Stibitz đã có thể truyền các bài toán bằng cách sử dụng teletype tới Máy tính số phức của mình ở New York và nhận lại kết quả tính toán tại Đại học Dartmouth ở New Hampshire. Cấu hình máy tính tập trung hoặc máy tính lớn có thiết bị đầu cuối câm từ xa này vẫn phổ biến trong suốt những năm 1950. Tuy nhiên, phải đến những năm 1960, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu nghiên cứu về chuyển mạch gói – một công nghệ cho phép các khối dữ liệu được gửi đến các máy tính khác nhau mà không cần chuyển qua một máy tính lớn tập trung. Một mạng bốn nút xuất hiện vào ngày 5 tháng 12 năm 1969, giữa Đại học California, Los Angeles, Viện Nghiên cứu Stanford, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara. Mạng này sẽ trở thành ARPANET, vào năm 1981 sẽ bao gồm 213 nút. Vào tháng 6 năm 1973, nút đầu tiên không phải của Hoa Kỳ đã được thêm vào mạng thuộc dự án NORSAR của Na Uy. Ngay sau đó là một nút ở London.
Hai giao thức liên kết phổ biến cho mạng cục bộ (LAN) cũng xuất hiện vào những năm 1970. Truy cập Internet trở nên phổ biến vào cuối thế kỷ này, sử dụng mạng điện thoại và truyền hình cũ. Internet, dựa trên các mạng của chính phủ có từ năm 1969, đã trở thành một mạng công cộng được sử dụng rộng rãi vào năm 1995. Sự phát triển của World Wide Web và giao diện người dùng đồ họa làm cho nó có thể mở ra vô số nguồn thông tin mở rộng và sự chấp nhận ngày càng tăng của công chúng. Vào đầu những năm 2000, hơn một nửa số hộ gia đình ở Mỹ đã kết nối với Internet, một số lượng ngày càng tăng trong số họ được kết nối bằng kết nối băng thông rộng. Những dự đoán về sự tăng trưởng của Internet đã làm dấy lên những kế hoạch lạc quan cho các dịch vụ viễn thông cơ bản và sản xuất đã làm cho Web trở nên khả thi. Nhiều dự đoán trong số đó là thực tế.
Giao thức Internet (IP) Điện thoại:
Điện thoại Giao thức Internet (IP) (còn được gọi là ‘điện thoại Internet’) là một dịch vụ dựa trên giao thức truyền thông Thoại qua IP (VoIP), một công nghệ đột phá đang nhanh chóng vượt lên trên các công nghệ mạng điện thoại truyền thống. Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, có tới 10% thuê bao chuyển sang loại hình dịch vụ điện thoại này tính đến tháng 1 năm 2005.
Điện thoại IP sử dụng kết nối Internet băng thông rộng để truyền các cuộc hội thoại dưới dạng gói dữ liệu. Ngoài việc thay thế hệ thống POTS dịch vụ điện thoại cũ truyền thống, điện thoại IP cũng đang cạnh tranh với các mạng điện thoại di động bằng cách cung cấp các kết nối miễn phí hoặc chi phí thấp hơn qua các điểm truy cập WiFi. VoIP cũng được sử dụng trên các mạng không dây riêng có thể có hoặc không có kết nối với mạng điện thoại bên ngoài.
Trong năm 2019, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã đạt được nhiều kết quả nổi bật và là tiền đề quan trọng để trong năm 2020 doanh nghiệp này khẳng định vị thế dẫn dắt của mình trong chuyển đổi số.
Thông tin trên được đưa ra tại Hội nghị triển khai công tác Đảng và Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2019 do VNPT này tổ chức tại Hà Nội vào sáng 24/12.
Nhiều kết quả ấn tượng
Theo đại diên VNPT, năm 2019, doanh nghiệp này đã hoàn thành mọi chỉ tiêu kế hoạch được giao. Cụ thể, tổng doanh thu toàn tập đoàn đạt 167.983 tỷ đồng, bằng 101% kế hoạch, tăng 2,7% so với thực hiện năm 2018. Trong đó, doanh thu Công ty mẹ đạt 45.730 tỷ đồng, bằng 100,3% kế hoạch, bằng 101,4% so với năm 2018; lợi nhuận đạt 7.100 tỷ đồng bằng 100,1% kế hoạch, tăng 10% so với thực hiện năm 2018.
Năm 2019, VNPT nộp ngân sách nhà nước 4.926 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch, tăng 10% so với 2018. Năng suất lao động theo doanh thu trung bình đạt 1,521 tỷ/người, tăng 1,7%.
Về phát triển dịch vụ, VNPT cũng tạo bước đột phá trong việc phát hành gói cước Combo (bao gồm 3 dịch vụ: di động, băng rộng, MyTV) phù hợp với nhu cầu, hành vi tiêu dùng của từng nhóm đối tượng, dựa theo phân khúc khách hàng. Qua đó, dịch vụ MyTV có sự tăng trưởng đột phá về thuê bao phát triển mới, với hơn 750.000 thuê bao, tăng 210% so với 2018. Tổng số thuê bao phát sinh cước ước tính đạt hơn 1,63 triệu thuê bao.
Về thương hiệu, VNPT đã vươn lên thứ 2 trong TOP 10 thương hiệu lớn nhất Việt Nam. Trong khi đó, thương hiệu VinaPhone cũng duy trì đứng thứ 7 trong Top 50 thương hiệu lớn nhất Việt Nam. VinaPhone cũng là nhà mạng duy nhất có số thuê bao chuyển đến lớn hơn so với số thuê bao chuyển đi gần 60.000 thuê bao…Tổng Giám đốc VNPT Phạm Đức Long cho biết, VNPT xác định mục tiêu là trụ cột trong chuyển đổi số quốc gia. (Ảnh: PV)
Ngoài ra, tổng giá trị sản phẩm công nghiệp nội địa do VNPT tự chủ sản xuất, không phải nhập khẩu đạt hơn 8.000 tỷ đồng. Kết quả này khẳng định năng lực của VNPT trong sản xuất thiết bị công nghệ công nghiệp, đảm bảo an ninh thông tin đồng thời tăng tính chủ động của VNPT trong phát triển mạng lưới.
Trong các hoạt động ra quốc tế, liên doanh Stream Net tại Myanmar đã bước vào năm hoạt động thứ 2 với doanh thu ước đạt 561.000 USD. VNPT cũng triển khai thành công giải pháp E-Office cho Văn phòng Chính phủ và Bộ Bưu chính viễn thông Lào. Bên cạnh đó, nhiều thiết bị và giải pháp đã được VNPT cung cấp tại cácthị trường mới như: Nepal, Myanmar, Indonesia, Campuchia, Lào, Bangladesh…
Đưa dịch vụ số vào mọi mặt của cuộc sống
Một trong những mục tiêu quan trọng của VNPT trong năm 2019 chính là giữ vai trò dẫn dắt trong chuyển đổi số nền kinh tế. Theo ông Phạm Đức Long, Tổng Giám đốc VNPT thì đơn vị này đã tập trung nguồn lực lớn và đạt được nhiều thành quả khích lệ.
Cụ thể, việc triển khai thành công Trục liên thông văn bản quốc gia (12/3/2019) và Cổng dịch vụ công quốc gia (tháng 12/2019) là hai thành tố quan trọng trong kiến tạo chính phủ điện tử đã thể hiện vị trí tiên phong của VNPT trong việc đồng hành cùng Chính phủ trong triển khai chính phủ điện tử.
Hiện, Trục liên thông văn bản quốc gia đảm bảo kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản từ Văn phòng Chính phủ tới các Bộ, ngành, địa phương. Trục được kết nối đến các hệ thống quản lý văn bản và điều hành của 95/95 đơn vị, bao gồm Văn phòng Trung ương Đảng, 31 Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, 63 tỉnh/thành phố, với hơn 1 triệu văn bản điện tử được gửi/nhận, trong đó gần 300.000 văn bản gửi đi và 700.000 văn bản đến, tiết kiệm 1.200 tỷ đồng/năm.
Trong khi đó, Cổng dịch vụ công quốc gia cung cấp 5 dịch vụ công trực tuyến tại 63 tỉnh/thành phố, 4 dịch vụ công thực hiện tại cấp Bộ. Đầu năm 2020, Chính phủ sẽ tích hợp thêm 15 dịch vụ công thuộc các lĩnh vực thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh, y tế, lao động, khai sinh, giao dịch bảo đảm và thu phạt vi phạm giao thông đường bộ…
Ngoài ra, VNPT cũng tiếp tục đẩy mạnh đưa các sản phẩm, dịch vụ cốt lõi trong triển khai Chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp đi vào thực tiễn. Đến nay, bộ sản phẩm Chính phủ điện tử của VNPT đã hiện diện tại 53 tỉnh/ thành phố; phần mềm VNPT-iOffice trên toàn quốc đã tăng thêm 59% số cơ quan cấp tỉnh; Giải pháp phòng họp không giấy tờ VNPT-eCabinet đã triển khai cho Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và gần 150 đơn vị.Thừa ủy quyền Chủ tịch nước, ông Nguyễn Hoàng Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trao Huân chương Lao động hạng Nhất cho ông Trần Mạnh Hùng, nguyên Chủ tịch hội đồng thành viên VNPT. (Ảnh: PV)
Hiện, VNPT đã khảo sát, tư vấn xây dựng Đề án đô thị thông minh cho 28 tỉnh thành; Triển khai Trung tâm điều hành thông minh IOC cho các tỉnh Đà Lạt, Hà Nam, Kiên Giang và xúc tiến triển khai tại 20 tỉnh trọng điểm; Triển khai giải pháp Du lịch thông minh gần 50 địa phương. Hiện, gần 55% cơ sở y tế đã sử dụng VNPT-HIS, gần 60% trường học sử dụng giải pháp vnEdu Dịch vụ hóa đơn điện tử đạt khoảng 1,4 triệu hóa đơn phát hành, tăng gấp đôi so với năm 2018.
Trong một lần trao đổi với phóng viên, ông Phạm Đức Long cho hay VNPT xác định mục tiêu là trụ cột trong chuyển đổi số quốc gia, tập trung phát triển các trung tâm công nghệ lõi, trí tuệ nhân tạo (AI) và trong tất cả sản phẩm chuyển đổi số của VNPT sẽ từng bước đưa AI vào. Đơn vị này cũng sẽ phát triển dịch vụ đám mây, internet vạn vật…
“Việc triển khai đồng bộ, chủ động nhiều giải pháp và kiên trì theo đuổi các mục tiêu chiến lược đã đề ra đã giúp VNPT đạt nhiều kết quả trong năm 2019. Đây sẽ là tiền đề quan trọng để trong năm 2020 VNPT khẳng định vị thế dẵn dắt của mình trong chuyển đổi số nền kinh tế, tiến tới cùng Chính phủ xây dựng Quốc gia số,” đại diện VNPT chốt lại./.
Thảo luận về các Mạng điện thoại di động diễn ra rất sôi nổi trên social media. Thống kê của Buzzmetrics cho thấy thị phần thảo luận của 3 nhà mạng Viettel, Mobifone và Vinaphone được dẫn đầu bởi Viettel trong năm 2014:
Bài viết sẽ đi sâu vào phân tích xu hướng tâm lý của khách hàng trong quá trình lựa chọn và sử dụng dịch vụ mạng di động bằng mô hình phân tích Quá trình trải nghiệm tiêu dùng – BJ (Brand Journey) của giải pháp lắng nghe và phân tích mạng xã hội Buzzmetrics.
Khi so sánh giữa 3 nhà mạng lớn nhất hiện nay tại Việt Nam là Viettel, Mobifone và Vinaphone trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2014, nhìn chung có thể thấy một số điểm nổi bật dưới đây:
– GIAI ĐOẠN CÂN NHẮC: Nhìn chung, khi khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng điện thoại di động, họ đã có một nhà mạng trong đầu và hỏi ý kiến trên social media để xác nhận thông tin. Đa số những người nằm trong giai đoạn cân nhắc này đều đã và đang sử dụng dịch vụ của một nhà mạng nào đó nhưng không hài lòng và muốn chuyển sang nhà mạng khác.
– GIAI ĐOẠN ĐÃ SỬ DỤNG DỊCH VỤ VÀ NÓI TỐT: Trong khi Mobifone và Vinaphone có tỷ lệ thảo luận tích cực của người dùng khá cao (34%-35%) thì Viettel lại chỉ có tỷ lệ này ở mức 16%.
– GIAI ĐOẠN KHUYÊN NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG DỊCH VỤ: Nhìn chung, tỷ lệ người dùng khuyên người khác về việc lựa chọn nhà mạng là thấp và lý do chính được đề cập trong những lời khuyên thường là về Tốc độ 3G nhanh.
– Ý KIẾN KHÔNG LỰA CHỌN SỬ DỤNG DỊCH VỤ: Hầu như không có thảo luận nói lên việc họ không chọn một nhà mạng vì lý do cụ thể gì.
– GIAI ĐOẠN ĐÃ SỬ DỤNG DỊCH VỤ VÀ KHÔNG HÀI LÒNG: Tỷ lệ khách hàng không hài lòng sau khi sử dụng dịch vụ của các nhà mạng hiện nay đang khá cao, nhất là Viettel và Vinaphone với tỷ lệ khách hàng đã sử dụng dịch vụ và không hài lòng lên đến 57%-58%, trong đó Cách làm việc không rõ ràng là vấn đề khiến khách hàng bức xúc nhât ở cả 3 nhà mạng.
VIETTEL: Mặc dù được thảo luận nhiều nhất trên social media nhưng Viettel lại không nhận được nhiều phản hồi tích cực từ phía khách hàng. Trong khi đó, vấn đề về Cách làm việc không rõ ràng (tự động gia hạn dịch vụ, trừ tiền không rõ nguyên nhân,…) lại là chủ đề thu hút sự tham gia của nhiều người với thái độ tiêu cực.
MOBIFONE: Được đánh giá là có Tốc độ 3G nhanh và Chính sách chăm sóc khách hàng tương đối tốt, tuy nhiên Mobifone cũng không tránh khỏi những thảo luận tiêu cực về Cách làm việc không rõ ràng.
VINAPHONE: Được đánh giá cao bởi Tốc độ 3G cao và Cước phí thấp, tuy nhiên Vinaphone lại nhận được những thảo luận rất tiêu cực về vấn đề Trừ tiền không rõ ràng và Tính cước phí cao khi hết hạn dịch vụ. Bên cạnh đó, Thái độ phục vụ của Vinaphone cũng là vấn đề khiến nhiều khách hàng không hài lòng.
GIAI ĐOẠN CÂN NHẮC (CONSIDERATION)
Trong giai đoạn này, khách hàng đang có nhu cầu chọn một mạng điện thoại di động và thường đặt câu hỏi nêu ra các tiêu chí cụ thể. Những yếu tố thường được cân nhắc khi lựa chọn mạng điện thoại thường là Cước phí, Chất lượng mạng, Chính sách chăm sóc khách hàng,… và đáng chú ý là Tốc độ 3G và Vấn đề trừ tiền (người dùng hiện đang rất hoang mang trước vấn đề trừ tiền không rõ ràng của các nhà mạng). Một điểm đặc biệt khác là thời điểm mà khách hàng cân nhắc lựa chọn dịch vụ mạng điện thoại di động đa phần là khi mua điện thoại mới, làm lại sim, và chủ yếu đều xuất phát từ lý do là không hài lòng với nhà mạng hiện đang dùng và muốn chuyển sang dịch vụ của nhà mạng khác.
GIAI ĐOẠN ĐÃ SỬ DỤNG DỊCH VỤ VÀ NÓI TỐT
Nhìn chung, Sóng mạnh, Tốc độ 3G nhanh và Cước phí thấpđã trở thành những lý do hàng đầu khiến khách hàng đánh giá cao dịch vụ của một nhà mạng. Có thể nói rằng, khi mà vấn đề chất lượng dịch vụ nghe gọi, nhắn tin không còn quá khác biệt giữa các mạng điện thoại di động và còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác (một mạng điện thoại có thể có sóng mạnh yếu khác nhau ở những vùng khác nhau), thì cùng với sự phát triển của nhu cầu online, Chất lượng dịch vụ 3G đã trở thành mốt yếu tố quan trọng tác động tới quyết định lựa chọn mạng điện thoại di động của người dùng tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, Chính sách chăm sóc hỗ trợ khách hàng và Thái độ phục vụ của nhân viên cũng là điều khiến người dùng hài lòng và nói tốt về nhà mạng trên mạng xã hội. Điều này được thể hiện thông qua việc hỗ trợ, giải đáp thắc mắc tận tình, gửi tin nhắn chúc mừng sinh nhật,… Mặt khác, việc cung cấp những chương trình khuyến mãi, gói dịch vụ nhằm phục vụ cho lợi ích của khách hàng khi sử dụng dịch vụ cũng nhận được những phản hồi tích cực từ phía người dùng.
GIAI ĐOẠN KHUYÊN NGƯỜI KHÁC DÙNG DỊCH VỤ
Đa số những lời khuyên sử dụng dịch vụ của một nhà mạng thường dựa trên những tiêu chí cụ thể mà người cần tư vấn đưa ra, trong đó Mobifone và Vinaphone thường được khuyên dùng vì có Tốc độ 3G nhanh và Gói dịch vụ tiện lợi. Ngoài ra, Chính sách chăm sóc khách hàng tốt, Cước phí thấp và có Dịch vụ mKids cũng là nguyên nhân khiến người dùng đã sử dụng và khuyên người khác dùng dịch vụ của Mobifone. Trong khi đó, đa số những người khuyên dùng dịch vụ của Viettel lại không nêu ra lý do cụ thể.
GIAI ĐOẠN ĐÃ SỬ DỤNG DỊCH VỤ NHƯNG KHÔNG HÀI LÒNG VÀ CÓ THỂ RỜI BỎ THƯƠNG HIỆU
Cách làm việc không rõ ràng là yếu tố nhận được phản hồi tiêu cực nhiều nhất đối với cả 3 nhà mạng và khách hàng hiện đang tỏ ra rất bức xúc với vấn đề này. Cụ thể là nhiều người dùng nêu ra trường hợp của họ như bị Trừ tiền vô lý, Tự động gia hạn dịch vụ, Tự động tính phí rất cao sau khi gói dịch vụ đã hết hạn mà không thông báo với người dùng, Không có câu trả lời cụ thể,… trong đó tất cả người dùng gặp vấn đề này đều cảm thấy đang bị lừa dối và đối xử không đúng mực bởi các nhà mạng. Những thảo luận này có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định của những khách hàng đang cân nhắc sử dụng dịch vụ của một nhà mạng, vì không ai muốn mình bị trừ tiền một cách không rõ ràng như vậy. Đa số các trường hợp bức xúc với cách làm việc không rõ ràng của nhà mạng đều muốn chuyển sang sử dụng nhà mạng khác nhưng đây lại được nói là vấn đề chung của các nhà mạng lớn tại Việt Nam như Viettel, Mobifone và Vinaphone.
Yếu tố thứ 2 khiến khách hàng không hài lòng với nhà mạng là Dịch vụ hỗ trợ khách hàng và Thái độ phục vụ của nhân viên, trong đó nhiều người tỏ ra thất vọng trước cách đối xử với khách hàng qua loa, không tận tình của các nhân viên tổng đài và phòng giao dịch, trong khi họ đã tin dùng dịch vụ và thậm chí là khách hàng thân thiết.
Một điều đáng chú ý khác là Chất lượng 3G kém cũng là điều thường bị phàn nàn bởi khách hàng khi dùng dịch vụ của nhà mạng, cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng 3G trong cuộc sống đang ngày càng tăng lên và có ảnh hưởng lớn tới việc lựa chọn mạng điện thoại di động.
Một số phản hồi tiêu cực khác có thể kể đến như Cước phí cao, Sóng yếu, Lỗi mạng, Nhiều tin nhắn quảng cáo,… cũng là những gì được thảo luận trên social media.
Tuy nhiên, mặc dù có nhiều điều chưa hài lòng về mạng điện thoại di động đang sử dụng nhưng khách hàng lại không có nhiều sự lựa chọn khác vì đây được nói là vấn đề chung của các nhà mạng lớn tại Việt Nam. Một số ít người kiên quyết sử dụng sang dịch vụ của các nhà mạng nhỏ khác nhưng đa số những người còn lại đều nói rằng họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục chịu đựng và đã sử dụng số điện thoại trong thời gian dài và không muốn hoặc không thể đổi vì có nhiều liên lạc.
Theo số liệu của Cục Viễn thông (Bộ TT&TT), tổng doanh thu toàn ngành viễn thông Việt Nam năm 2019 đạt 470.000 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2018. Đáng chú ý khi tổng nộp ngân sách ngành viễn thông trong năm qua là 47.000 tỷ đồng, tăng tới 36,8% so với năm 2018.
Theo đánh giá của Cục Viễn thông, những con số này đã cho thấy mức tăng trưởng mạnh mẽ của toàn ngành trong suốt năm vừa qua. Đây cũng là chỉ dấu cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ trong bối cảnh các dịch vụ viễn thông truyền thống đã ở trạng thái bão hòa.
Triển lãm quốc tế sản phẩm, dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin – truyền thông (Vietnam ICTComm) khai mạc tại TP.HCM hôm 6/6/2019.
Sự tăng trưởng nhanh và mạnh mẽ của ngành viễn thông và CNTT đã góp phần giúp cải thiện rõ rệt thứ bậc Việt Nam trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (tăng 10 bậc về chỉ số GCI) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF).
Bên cạnh những kết quả tích cực, ngành viễn thông vẫn còn đó những vấn đề tồn tại như khung pháp lý chưa hoàn chỉnh, một số quy định đã lạc hậu, chưa theo kịp sự phát triển của lĩnh vực. Đây chính là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển chung của toàn ngành.
Có một điều đáng buồn là doanh thu dịch vụ di động hiện vẫn dựa chủ yếu vào các loại hình dịch vụ truyền thống, đặc biệt là thoại và tin nhắn SMS (chiếm 76,6% doanh thu). Bên cạnh đó, việc cạnh tranh quá mức trên thị trường đã dẫn tới sự tồn tại của những hệ lụy như SIM rác, tin nhắn rác, cuộc gọi rác và vấn nạn quảng cáo, lừa đảo trên mạng di động.
Tròn 1 năm triển khai chuyển mạng giữ số
2019 cũng là khoảng thời gian chứng kiến tròn 1 năm triển khai dịch vụ chuyển mạng di động mặt đất giữ nguyên số thuê bao. Đây là dịch vụ cho phép thuê bao di động chuyển đổi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (nhà mạng) trong khi vẫn giữ được số điện thoại (bao gồm cả mã mạng và số thuê bao).
Hiện tại, dịch vụ này đã áp dụng với tất cả các thuê bao của Viettel, VinaPhone, MobiFone, Vietnamobile, bao gồm cả thuê bao trả sau và thuê bao trả trước.
Hơn một triệu thuê bao di động đã chuyển mạng giữ nguyên số thành công sau một năm dịch vụ này được triển khai.
Đã từng có thời điểm, nhiều người dân cảm thấy bất bình trước sự khó khăn khi đăng ký chuyển mạng. Nguyên nhân của tình trạng này là bởi thời gian chuyển mạng kéo dài, nhiều thuê bao yêu cầu chuyển nhiều lần nhưng vẫn không được, điều kiện chuyển mạng chưa rõ ràng, quy trình nghiệp vụ còn nhiều điểm chưa hoàn thiện…
Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, tỷ lệ chuyển mạng thành công đã tăng đáng kể so với thời điểm ban đầu khi mới triển khai dịch vụ này. Sau hơn 1 năm triển khai, đã có 1 triệu thuê bao chuyển mạng thành công, đạt tỷ lệ hơn 82% số thuê bao đăng ký chuyển mạng.
Đánh giá của Cục Viễn thông cho thấy, dịch vụ chuyển mạng giữ nguyên số thuê bao đã trở thành động lực cho các doanh nghiệp di động tăng cường năng lực cạnh tranh. Thay vì chỉ cạnh tranh về giá như trước kia, giờ đây các nhà mạng phải cạnh tranh lẫn nhau cả về chất lượng dịch vụ và việc chăm sóc khách hàng. Điều này sẽ giúp nâng cao trải nghiệm sử dụng và đảm bảo quyền lợi tốt hơn cho người dùng di động.
Quyết liệt xử lý xong 17 triệu SIM rác
Trong năm 2019, Bộ TT&TT đã chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp nhằm xử lý dứt điểm tình trạng SIM rác, tin nhắn rác.
Quan điểm của Bộ TT&TT là người đứng đầu doanh nghiệp viễn thông sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu còn tồn tại SIM rác. Nếu như còn tồn tại SIM rác ở nhà mạng nào, nhà mạng đó sẽ không được cấp phép triển khai các dịch vụ mới.
Bộ TT&TT đã tích cực chỉ đạo các nhà mạng tăng cường kiểm soát việc buôn bán SIM trên toàn quốc. Ảnh: Trọng Đạt
Đầu tháng 10/2019, Bộ TT&TT cũng đã có văn bản chỉ đạo các Sở TT&TT 63 tỉnh, thành phố về việc phối hợp với chính quyền địa phương, công an, lực lượng quản lý thị trường nhằm tiến hành thanh tra diện rộng việc quản lý thông tin thuê bao di động trên phạm vi toàn quốc.
Theo đó, các Sở TT&TT sẽ tiến hành thanh tra các doanh nghiệp viễn thông di động, tổ chức, cá nhân, cửa hàng, đại lý phân phối, bán SIM điện thoại trái pháp luật trên địa bàn.
Sau những hành động quyết liệt trên, lượng SIM rác, SIM kích hoạt sẵn đã giảm 17 triệu SIM so với thời điểm tháng 10/2018. Ước tính, trên toàn thị trường hiện còn khoảng 6,8 triệu SIM nghi vấn có thông tin không chính xác đang lưu thông, chiếm dưới 5% tổng số thuê bao đang hoạt động. Số lượng phản ánh tin nhắn rác cũng giảm trên 90%.
Cấp phép thử nghiệm, tiến tới thương mại hóa 5G
Việt Nam đang có những bước đi mạnh mẽ nhằm tiến tới việc theo mại hóa 5G vào năm 2020. Bộ TT&TT đã cấp giấy phép cho cả 3 nhà mạng Viettel, VinaPhone và MobiFone để bắt đầu thử nghiệm công nghệ 5G tại một số thành phố lớn.
Việt Nam đang tiến hành những bước thử nghiệm cần thiết nhằm hướng tới việc thương mại hóa 5G vào năm 2020, trong đó bao gồm cả việc sản xuất các thiết bị 5G. Ảnh: Trọng Đạt
Việc thử nghiệm 5G đến nay đã đạt được những kết quả tương đối tích cực. Trong quá trình thử nghiệm, thông lượng 5G ghi nhận đạt khoảng 80-90% tốc độ 5G lý thuyết với cả 2 dải tần số mmWave và C-Band.
Đáng chú ý khi một nhà mạng trong nước đã tìm ra được bộ lọc có thể ngăn ngừa hiện tượng nhiễu vệ tinh giữa tín hiệu 5G với trạm mặt đất khi sử dụng chung băng tần C (C-Band). Điều này sẽ giúp giải quyết vấn đề lựa chọn tần số để quy hoạch cho 5G nhằm chuẩn bị cho việc thương mại hóa.
Bên cạnh việc thử nghiệm mạng lưới, nhiều doanh nghiệp Việt đang lên kế hoạch sản xuất chip dùng cho mạng lõi 5G, các thiết bị IoT, nghiên cứu, phát triển điện thoại và các thiết bị viễn thông 5G.
Việt Nam xác định sẽ không đi chậm so với các nước trong quá trình phát triển 5G. Vào năm 2020, khi thế giới tuyên bố chuẩn 5G, Việt Nam cũng sẽ chính thức thương mại hoá 5G, thậm chí là bằng các thiết bị tự sản xuất.
Kỹ thuật Điện tử – Viễn thông (còn được gọi là Công nghệ Kỹ thuật Điện tử & Viễn thông hay Công nghệ Kỹ thuật Điện tử & Truyền thông) hiểu đơn giản là ngành sử dụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến để tạo nên các thiết bị vệ tinh, cáp và thiết bị điện tử như: máy thu hình, điện thoại, máy tính cá nhân, máy tính bảng… nhằm xây dựng hệ thống mạng thông tin liên lạc trên toàn cầu, giúp việc trao đổi thông tin giữa diễn ra thuận lợi trong những điều kiện không gian và thời gian khác nhau.
Ngành Kỹ thuật Điện tử – Viễn thông là ngành đào tạo kỹ sư có trình độ chuyên môn về lĩnh vực điện tử và viễn thông, người học có khả năng tiếp cận với công nghệ kỹ thuật điện tử tiên tiến và nắm bắt được hoạt động của các mạng truyền thông hiện đại. Qua đó, sinh viên có thể làm chủ được các trang thiết bị điện tử, thiết bị truyền dẫn được ứng dụng rộng rãi trong mạng thông tin di động thế hệ mới, mạng thông tin quang, mạng thông tin vệ tinh. Tiến hành các hoạt động nghiên cứu về chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển mạng lưới và dịch vụ Bưu chính viễn thông, về tổ chức quản lý và quản trị kinh doanh, về khoa học – công nghệ, thông tin khoa học và chuyển giao công nghệ để phục vụ nhu cầu phát triển của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông, Cơ quan Nhà nước và Xã hội.
Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo cho các cơ quan, đơn vị ngoài Tập đoàn, phục vụ nhu cầu đa dạng hóa của xã hội.
Tiến hành các hoạt động dịch vụ tư vấn về khoa học công nghệ, tham gia thẩm định về mặt khoa học công nghệ các dự án công trình của Tập đoàn, của Nhà nước và các thành phần kinh tế, tham gia xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, giám định, đo lường chất lượng thiết bị sản phẩm trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông, Điện tử và Tin học.
Chương trình đào tạo giúp người học có khả năng tiếp cận, nắm bắt các công nghệ kỹ thuật điện tử tiên tiến nhất hiện nay và hoạt động của mạng truyền thông hiện đại. Đồng thời, có khả năng thiết kế, xây dựng, khai thác, sử dụng, bảo trì các thiết bị điện tử, thiết bị viễn thông. Kiến thức ngành học này bao gồm: cơ sở về phân tích, thiết kế mạch điện tử, thiết kế vi mạch, kiến thức về cải tiến, nâng cấp các hệ thống viễn thông, đài truyền hình, thông tin vệ tinh, lập trình tự động giải quyết vấn đề cụ thể trong vận hành hệ thống và khả năng nghiên cứu, chế tạo nâng cấp các mạng truyền thông.